Lịch sử khu đất 42 Nhà Chung

 

     Tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng nói kỹ việc này; nay thấy đức cha Ngô Quang Kiệt Tổng Giám mục Hà Nội nói khác bèn chép về để cùng bạn đọc và bàn luận xem ai phải ai trái. ...


Ở Hà Nội phía Tây hồ Hoàn Kiếm dọc theo trục Bắc Nam có một đường phố ngắn (chỉ 300m) phía Bắc tiếp nối với phố Lý Quốc Sư phía Nam đụng với phố Trường Thi nằm gọn trong phường Hàng Trống thuộc quận Hoàn Kiếm mang tên Phố Nhà Chung thời Pháp thuộc gọi là Rue de la Mission (phố Hội Truyền Giáo hoặc phố Hội Thừa Sai). 

  
 
 
 
Trên đường phố này xúm xít những cơ sở Công giáo như Nhà thờ Lớn trụ sở của Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam và Câu lạc bộ Thanh thiếu niên (1) Hoàn Kiếm Trung tâm ngoại ngữ Đại học Sư phạm... tiếp giáp với ngôi chùa cổ danh tiếng trong sử sách vẫn ghi là "Đền" Lý Quốc Sư (2).

Thời tôi còn công tác ở Ban Tôn giáo Chính phủ đã nhiều lần tôi đến thăm chùa và nghe vị sư trụ trì (3) chùa Lý Quốc Sư kể chuyện đưa cho đọc những tư liệu quý giá mà nhà chùa vẫn còn lưu giữ được về khu đất bên cạnh chùa. Thật bất ngờ cho tôi khi đọc thấy những chứng tích rằng toàn bộ khu đất rộng 300m2 ấy ngày nay gọi là Phố Nhà Chung (Công giáo) ngày xưa là một ngôi chùa (Phật giáo) cổ kính tráng lệ đồ sộ vào bậc nhất nước ta.

Chùa đó có tên gọi tắt là Báo Thiên Tự gọi đầy đủ là Sùng Khánh Báo Thiên Tự; trong sân chùa có một ngôi bảo tháp cao vời vợi (12 tầng) cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt nước hồ (4) Hoàn Kiếm. Tháp này có tên gọi là Đại Thắng Tư Thiên Tháp gọi tắt là Báo Thiên Tháp.

Báo Thiên Tự được khởi công xây dựng từ năm 1057 (đời vua Lý Thánh Tông) đúc một quả đại hồng chung nặng đến 1 vạn 2 ngàn cân (tức 7.260kg). Báo Thiên Tháp có chóp làm bằng đồng được xây dựng một năm sau khi xây dựng chùa xong. Trong chùa và tháp có rất nhiều vật hạng bằng đồng như tượng Phật thiền trượng giới đạo hộ pháp nhà Phật... cho nên năm 1427 khi quân Minh xâm lược bị vây khốn trong thành Đông Quan (tức Hà Nội) chúng cố thủ để chờ quân tiếp viện đã đến chùa tốc chóp tháp đồng nấu chảy đại hồng chung và tất cả những gì bằng đồng bằng kim loại làm vũ khí (đúc súng) chống lại quân Việt Nam của Lê Lợi - Nguyễn Trãi mãi cho đến khi biết rõ là các đạo quân tiếp viện (Liễu Thăng Mộc Thạnh) đều đã bị đánh tan cả mới chịu đầu hàng.

Trong chùa Lý Quốc Sư ngày nay vẫn còn lưu giữ bản gấm thêu sắc tứ của đời Cảnh Hưng (tức vua Lê Hiển Tông 1740-1786) về chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự. Trên nền tháp bị phá đã được tôn cao bằng 1 đàn tràng cũng gần gần nơi bây giờ là Nhà thờ Lớn.

Về lý do diễn biến đổi thay từ chùa và tháp Báo Thiên 1 trong "Tứ đại khí" hay "Tứ bảo khí" của Việt Nam cổ (tạm dịch là 4 công trình lớn của nước Nam ta) thành ra Nhà thờ Lớn Tòa Tổng Giám mục Hà Nội Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam... ngày nay thì dò theo các quyển sách lịch sử đáng tin cậy như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim; Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam của Nguyễn Văn Tân NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội 1998; Từ điển đường phố Hà Nội NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2000; Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm - Công giáo và Dân tộc xuân 1996 TP. Hồ Chí Minh; Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long - NXB Văn hóa thông tin - Thời báo kinh tế Việt Nam tập I 2007... tôi suy ra những kết luận chuẩn xác như sau:

Cho đến trước năm 1886 Tòa Giám mục (5) Hà Nội chỉ đặt tại làng Vĩnh Trị (Kẻ Vĩnh) rồi Sở Kiện (Kẻ Sở).

Năm 1873 Francis Garrnier (6) ra đánh chiếm Hà Nội lần thứ I (Nguyễn Tri Phương (7) bị thương bị bắt tuyệt thực cả tháng ròng để tuẫn tiết và cuối cùng đã tuẫn tiết chứ không chịu đầu hàng quân xâm lược) giao toàn bộ ngôi chùa tháp này cho Giám mục Puginier (8) làm nơi ở và làm việc tạm thời khi giám mục về Hà Nội trực tiếp làm thông ngôn và cố vấn cho F.Garrnier. Lúc đó giám mục Puginier chỉ cất tạm mấy ngôi nhà gỗ trong vườn chùa để ở và làm việc cho gần F.Garrnier đóng quân tại Trường Thi gần đó còn Tòa Giám mục thì vẫn đóng ở Kẻ Sở.

Mãi cho đến năm 1887 khi Pháp đã đặt vững nền cai trị ở Bắc Kỳ (năm 1882 Henry Riviere (9) đánh chiếm Hà Nội lần thứ II Hoàng Diệu (10) treo cổ tự tận; năm 1884 hàng ước Patenotre được ký kết triều đình Nguyễn chấp nhận Pháp bảo hộ Việt Nam và chia Việt Nam thành 3 kỳ: Nam Kỳ là xứ thuộc địa (colonie) của Pháp Bắc Kỳ là xứ bảo hộ (protectorat) của Pháp Trung Kỳ được gọi là Đế chế An Nam (Empire d An Nam) - sự thật thì cả ba kỳ đều chung 1 chế độ lệ thuộc ngay trong đế chế An Nam thì vua mặc dù có những vị vua yêu nước muốn khôi phục độc lập chủ quyền cho dân tộc nhưng cuối cùng phải bị bắt bị đày bởi "vua thì còn đó nước thì không" triều đình quan lại mặc dù có những ông quan tận trung báo quốc nhưng cuối cùng phải bị giết bị tù giám mục Puginier mới cho xây dựng mới bằng những vật liệu kiên cố Nhà thờ Lớn và các toà nhà khác của Nhà Chung rồi dời Toà Giám mục về đây: Năm 1925 Toà Thánh Vatican lập Toà Khâm Sứ Toà Thánh ở Việt Nam (Delegue Apostolique (11) F Apostolic Delegate (11) E) và trụ sở ban đầu đặt tại Huế đến năm 1951 dời ra Hà Nội và Toà Khâm sứ Toà Thánh được xây dựng ngay trên khu đất phố Nhà Chung này. Đến năm 1957 sau khi hiệp định Geneve được ký kết đất nước Việt Nam tạm thời chia thành 2 miền tập kết quân đội đợi ngày hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Nhưng chính quyền miền Nam nhất định không chịu hiệp thương tổng tuyển cử Toà Thánh Vatican thì nhất quyết không thừa nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nên chuyển Toà Khâm Sứ Toà thánh vào Nam là nơi mà Toà Thánh công nhận là "đại diện duy nhất" (!) cho nước Việt Nam. ..

Hiện nay đang có những người tranh chấp về khu đất này là thuộc của tôn giáo nào. Tôi xin không tham gia tranh luận mà chỉ trình bày về lịch sử cụ thể. Một khu đất của Tổ quốc thấm đẫm mồ hôi nước mắt máu đào của dân tộc!

Chú thích:

1. Nay đã chuyển thành cơ sở kinh doanh của quận Hoàn Kiếm

2 Thờ Vạn Hạnh thiền sư (?-1018)

3. Thượng Tọa Thích Bảo Nghiêm

4. Báo Thiên Tháp Ảnh: Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam NXB Văn hóa- Thông tin Hà Nội 1998 tr92

5. Năm 1679 Tòa Thánh chia Địa phận Đàng Ngoài thành 2: Địa Tây và Địa Đông Đàng Ngoài. Năm 1846 Địa phận Tây Đàng Ngoài được chia làm 2: Đp Tây Đàng Ngoài và Đp Nam Đàng Ngoài Hà Nội nằm về phía Tây nên thuộc về Giáo phận Tây Đàng Ngoài. Tòa Giám mục lúc ấy được gọi là Tòa Giám mục Tây Đàng Ngoài. Mãi đến năm 1924 mới lấy tên nơi đặt Tòa Giám mục làm tên gọi các Giáo phận Tòa Giám mục Hà Nội có tên từ ấy (GMCGVN niên giám 2004 tr 218).

6. Capitaine de fregate: Trần Trọng Kim là Đại úy hải quân nhưng tôi (Lê Quang Vịnh) nghĩ là quá thấp lẽ ra phải dịch là Trung tá hải quân bởi trong hải quân Pháp cổ chữ Capitaine có nghĩa là chiến thuyền trưởng chứ không phải là đại úy như trong lục quân và có 3 cấp Capitaine => Capitaine de corvette nên dịch là Thiếu tá hải quân Capitaine de fregate nên dịch là Trung tá hải quân Capitaine de vaisscau nên dịch là Đại tá hải quân.

7. Khâm sai đại thần được phái ra tổng quản chỉ huy Bắc Kỳ.

8. Giám mục Hiệu tòa Mauricastre (1858-1892).

9. Đại tá hải quân Pháp (xem lại chú thích 7 về Francis Garnier Capitaine de fregate...)

10. Thượng thư bộ binh được phái ra Bắc làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội + Ninh Bình).

11. Apostolie Delegate: Khâm sứ Toà Thánh (= vị đại diện của Đức Giáo Hoàng không làm nhiệm vụ ngoại giao như apostolic nuneio mà chỉ làm nhiệm vụ của Giáo hội là liên lạc với các giám mục ở những quốc gia không có quan hệ ngoại giao chính thức với Vatican (Nguyễn Đình Diễn; Từ điển Công giáo Anh Việt NXB Tôn giáo Hà Nội 2002 tr 49).
Lê Quang Vinh

 
Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'3535','o23m9e1vapjmh3183c37sk9fq6','0','Guest','0','54.196.98.96','2018-08-17 20:55:23','/a94638/lich-su-khu-dat-42-nha-chung.html')