Sứ thần Nguyễn Du

      Trong cuộc đời của đại thi hào Nguyễn Du danh nhân văn hóa thế giới có hai lần trong vai trò nhà ngoại giao cấp quốc gia vừa làm ngoại giao chính thống của triều đình nhà Nguyễn vừa làm ngoại giao nhân dân trên hành trình đi sứ  dọc đất nước trung Hoa rộng lớn ....
 

Lần thứ nhất vào mùa đông năm 1803 đương chức Tri phủ Thường Tín ông được triều đình cử  cùng tri phủ Thương Trường là Ngô Nguyên Viễn tri phủ Tiên Hưng là Trần Lưu tri phủ Thượng Hồng là Trần Quý Chuyên lên ải Nam Quan để tiếp sứ thần Trung Quốc sang sắc phong cho Gia Long. Công trạng của đoàn tiếp sứ không được ghi chép nhiều  trong thư khố nhưng để lại câu tuyên ngôn về địa giới quốc gia trong bài thơ Cửa Quỷ Môn của Nguyễn Du: Núi liền nhau lên cao tận mây xanh/ Cửa ải giữa bắc- nam đến đây là chia cõi… Sau chuyến đi tiếp sứ Nguyễn Du được thăng Đông các Đại học sĩ   tước du Đức hầu vào kinh đô Phú Xuân làm quan văn. Đến Gia Long thứ 11 (1812) đang chức Cai bạ Quảng Bình vừa vắt kiệt sức viết xong Truyện Kiều ông xin về quê nghỉ ngơi chăm sóc gia đình được ít ngày nhà vua lại triệu về Huế thăng hàm Cần chánh điện Đại học sĩ và cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc.
 
    Qua Bắc hành tạp lục ta biết sứ bộ do Nguyễn Du dẫn đầu có 27 người :Nước sông gợn sóng trăng sông gợn/ Nhà ai dựa  lan can thổi sáo?/ Hai mươi bảy người cùng ngoái đầu.Làng quê đẫ cách bao lớp núi. Cũng qua trật tự sắp xếp từ bài 1: Long Thành cầm giả ca – Bài ca về người đánh đàn cầm ở Long Thành đến bài 130 Dương Phi cố lý-Làng cũ Dương Phi trong Bắc hành tạp lục chúng ta biết con đường đi  của sứ bộ Đại Việt. Bây giờ sáng ở Hà Nội trưa đã đến Bắc Kinh chỉ hơn ba giờ bay. Nhưng thời ấy đoàn sứ bộ của Nguyễn Du đi từ Huế đến Bắc Kinh rồi trở về mất 14 tháng chỉ nghỉ lại có 20 ngày ở kinh đô Trung  Hoa  để thi lễ và sửa soạn ra về.
    Đại thể hành trình của sứ bộ như sau: khởi từ Huế qua Thăng Long chuẩn bị đồ cống tiến qua ải Nam Quan  sang Trung Quốc rồi từ đây chủ yếu đi đường sông theo dòng Minh Giang  và Tả Giang để đến Ngô Châu; ngựợc sông Quế Giang đến Quế Lâm rẽ qua kênh đào Hưng  An mà đến sông Tương; xuôi sông Tương chảy dọc tỉnh Hồ Nam đến hạ lưu ở thị trấn Tương Đàm Tương Âm vào hồ Động Đình nổi tiếng về danh nhân Khuất Nguyên trầm mình ở sông Mịch La vì biết nước Sở sẽ mất vào tay nước Tần mà không cứu vãn nổi. Rồi đoàn sứ bộ đến Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc. Từ đây đường thủy không tiện vì các dòng sông lại chảy về phía đông nam mà Bắc Kinh lại chếch bắc vì thế có lẽ đoàn sứ bộ theo đường bộ mà đến Võ Thắng Quan đến Hà Nam qua Tín Dương Yên Thành Hứa Xương đến Khai Phong thuận đường sông đoàn sứ bộ qua sông Hoàng Hà đến Trường ca Nghiệp Thành qua kinh đô nước Triệu xưa là Hàm Đan qua sông Dịch dòng chảy dữ dội bậc nhất của sông Trung Quốc vào nước Yên để đến Bắc Kinh.
     Nhớ lại đoàn sứ bộ của Nguyễn Du lên đường từ Phú Xuân ngày 16 tháng 2 năm 1813 đến Bắc Kinh  ngày 27 tháng 12  năm ấy tròn 10 tháng 11 ngày.( Trong đó có 2 tháng lưu lại Thăng Long.) Đến Bắc Kinh đoàn yết kiến triều đình Càn Long nghỉ ngơi thăm viếng đúng 20 ngày rồi quay về nước. Đại khái đường về đoàn sứ bộ khi thì theo đường cũ khi thì mở lối mới. Bấy giờ ở phía nam sông Hoàng Hà do mới trải qua lụt lội đói kém loạn lạc nạn cướp bóc hoành hoành nên sứ bộ phải chuyển sang đi đường phía đông từ Tân Phố qua Tây Thái Sơn đến Khúc Phụ quê hương Khổng Tử rồi đến Trâu huyện quê hương Mạnh Tử vào Giang Tô đến Từ Châu Nam Kinh. Bấy giờ lưu vực sông Hoài dân binh không ổn cho nên sứ bộ không đi theo đường Nam Kinh thẳng đến An Huy mà phải vòng sang Chiết Giang đến Hàng Châu lại phải vượt lên phía bắc sông Trường Giang qua Tiên Sơn vào Hồ Bắc rồi đến Vũ Hán. Từ đây sứ bộ lại gặp đường cũ qua các tỉnh Hà Nam Quảng Tây về Nam Quan đến trung tuần tháng 4 năm 1814 thì về đến Phú Xuân tròn 14 tháng. 
  
       Đường đi sứ qua nhiều thắng tích địa danh gắn bó với những danh nhân văn hóa lịch sử gặp gỡ những vùng cư dân của đất Trung Hoa rộng lớn tiếp cận với cuộc sống giàu màu sắc sứ thần - nhà ngoại giao Nguyễn Du không chỉ cảm nhận sâu sắc trân trọng những giá trị văn hóa mà chia xẻ đồng cảm với những con người cùng khổ của nước  bạn. Qua sông Minh Giang Quảng Tây thấy “Trận lũ vừa mới rồi làm nước sông vẩn đục” mà thương những người dân trong cảnh màn trời chiếu đất. Lại qua Hồ Nam đất Thượng Ngô gặp cảnh “Trận lụt mới nước nhiều thêm mấy thước” rồi “Dòng sông mới lụt nước tràn phẳng cả ba miền Sở” mà thương những thân người gầy nhom mà vẳng nghe tiếng khóc đói cơm của trẻ con đâu đó. Thương người như thể thương thân là tình cảm của sứ thần Nguyễn Du hành trình trên xứ bạn.
     
     Với sự am hiểu sâu sắc kiến văn rộng lớn Nguyễn Du thường không bỏ qua những di tích văn hóa lịch sử trên đường cuộc hành trình. Qua sông Hoài thi sĩ cảm nhớ Hàn Tín Văn Thiên Tường viếng mộ Đỗ Phủ thăm mộ Âu Dương Tu- một trong tám nhà văn nổ
tiếng đời Đường Tống thăm mộ Chu Du thăm mộ mưu sĩ Hạng Võ…Thấy tượng Trần Cối thi sĩ viết “Trái tim chết của hắn một đời chứa đầy nọc độc”. Qua đình Tô Tần thi sĩ  còn thấy “ Cái khí cục của con người ấy bé nhỏ lắm thay” ông đồng cảm với các sử gia Trung Hoa rằng những mưu lược của người này không phải để đẩy lui quân Tần mà cốt cầu phú quý vinh thân  phì gia. Qua đài Đồng Tước nguy nga của Tào Tháo xưa chỉ thấy còn lại cái nền gió lạnh ào ào cảnh thu heo hắt cảnh báo sự nghiệp của kẻ ham công danh ích kỷ chẳng bền vững được đâu. Sứ thần luôn hoài nhớ và chia xẻ đồng cảm với nhân dân nước bạn hướng về các giá trị của quá khứ. Đi qua chân núi Thượng Ngô thi sĩ nhớ lại hai bà vợ của vua Thuấn khóc chồng nơi đây “ nước mắt vẩy vào làm cho khóm trúc có màu lốm đốm”. Qua Hoàng Hạc Lâu Nguyễn Du  thấy cảnh buồn hắt hiu trong thơ Thôi Hạo nhớ câu thơ bất hủ “ Nhật mộ hương quan hà xứ thị (Hoàng hôn ở đâu bóng quê hương ở đó). Quê hương ở nơi đâu ? Câu hỏi da diết nhớ không chỉ cho nhiều cuộc đời mà cho chính  Nguyễn Du trước bao thăng trầm.    
     Do làm tốt công việc đi sứ mở rộng bang giao giữa hai quốc gia Trung Hoa và Đại Việt vì thế thư của vua Càn Long gưi vua Gia Long có lời khen sứ thần Nguyễn Du là người thâm hậu biết giữ lễ nghĩa thuận tình hòa hiếu lân bang…Cũng sau chuyến đi sứ  thi sĩ  càng có dịp mà soi vào các sáng tác thấm lòng yêu con người yêu đất nước yêu chữ Việt vào từng câu chữ vượt qua các hạn chế  để Kiều trở thành tác phẩm của thời đại.
              

zhengwei

The Bushmen who live off the land would cut off part of the lida stem and eat it to ward off hunger and thirst during nomadic hunting trips. They also used lida daidaihua for severe abdominal cramps haemorrhoids tuberculosis indigestion hypertension and diabetes.