Thi sĩ Hữu Loan

        

  
       Cả ba lớp cửa từ đường làng vào vườn vườn vào sân sân vào nhà của nhà thơ Hữu Loan đều khép hờ.Ai ra vào tuỳ ý.Nhưng xem ra cũng ít người qua lại trừ đám trẻ như bà cụ hàng xóm nói chúng kéo đến vào mùa nhãn cho đến khi bói không ra một quả rồi thôi bỏ lại khu vườn đẫ vặt trụi hoa trái cho hai ông bà già...

          Bà cụ hàng xóm mau mắn: Các bác có lòng đến thăm cụ Tú thì cứ vào chứ gọi cửa cũng không có người ra đón đâu. Cụ Tú con đàn cháu đống ra ở riêng cả rồi về già chỉ còn lại hai cái bóng mướp. Cụ Tú có nhà đấy chắc lại đang ngồi ngắm rượu.
          Nhà thơ đang ngồi ngắm rượu thật trên manh chiếu trải ngoài hiên tựa lưng vào tường hai đầu gối so lên cằm mái tóc bạc trắng rũ xuống mắt nhìn đắm đuối vào chén rượu trên tay. Mâm bát sơ sài chỉ một quả chối xanh nhúm muối và đôi đũa lệch. Nhà văn xứ Thanh Kiều Vượng nói với tôi mỗi năm ông vài lần đến thăm cụ Loan làn nào cũng gặp cụ ngồi nhìn chén rượu thế kia chỉ nhì mà ít uống.
          Cụ đang sáng tác hay chỉ ngồi ngắm chén rượu như một thói quen của một thượng thọ ngoài tám mươi? Tôi không biết. Kiều Vượng cũng chịu. Chỉ có nhà thơ Trịnh Thanh Sơn cùng quê Nga Sơn từng nhiều lần hầu rượu cụ Loan thì đám chắc thi sĩ đang nghĩ về thơ đấy nghĩ lạ lắm chả giống ai.
 Đời thơ của cụ bắt đầu từ Đèo
Cả khép lại là Hoa lúa vỏn vẹn mươi bài nhưng cụ nghĩ về
thơ người thơ cõi thơ thì cả đời nếu chép ra thì cả bộ trường thiên.
     
           Thi bá cho rằng thơ thuộc về âm nghĩa là thuộc về đêm thuộc về trăng con nước thuộc về đàn bà. Người có sao Thái âm đóng cung mệnh người đó mới làm được thơ mới trở thành nhà thơ. Thơ thuộc hành thuỷ mềm đấy mà cứng đấy thấy trước mặt mà không nắm được trong tay ngỡ là hữu hình mà hoá ra vô hình. Bở vậy trong thơ thường có trăng có sông lại khăng khít với nhau tạo những suối nước. Ngày trăng viên mãn thì nước ngập tràn.Ngày trăng hao mòn thì con nước ngẹn ngào. Bản chất của thơ là buồn là cô đơn là hiu quạnh. Khi vui người ta hát. Khi buồn người ta đọc thơ.Kiếp nhân sinh có vui có buồn. Khi buồn người ta cần có thơ để vịn mà đi. Thơ trường tồn là vậy. Bao nhiêu rượu quê Nga Sơn bao nhiêu chiều ngồi ngắm rượu trên tay của một đời thơ để cụ cảm về thơ nghĩ về thơ tràn đầy và thâm hậu đến như vậy ? 
                     Nhà thơ ngồi đó trước mặt tôi như ngồi để chờ một phép lạ giúp cụ được tan vào thứ ánh sáng vườn chiều sâm sẫm bò loang trên cỏ rác. Giá thử không có chúng tôi đánh động thì cơ chừng cụ sắp tan vào chiều quê thật. Được thế thì sướng quá nhưng trời lại chưa cho nên xem cái dáng cụ ngồi ngắm chén rượu thấy cái vẻ thi nhân chưa được thư thái mãn nguyện buông xuôi sự đời của trưởng lão mà vẫn như để tự giam mìnhcho đến cõi khổ tận cam lai của đời người bao vuông tròn...
           Trong các nhà thơ thuộc thế hệ đầu cách mạng có lẽ Hữu Loan là người nhiều bước thăng trầm hơn cả. Ông người quê nghèo Nga Sơn Thanh Hoá từ nhỏ nói như Nam Cao ít khi được thoả cơm nhưng ham học lại sáng dạn nên hai mươi tuổi đã đậu tú tài. Đến tận bây giờ bà con láng giềng vẫn cứ một cụ Tú Loan hai cụ Tú Loan là vậy. Cậu Tú học trường Tây nhưng không đi làm cho Tây ở Sở Dây thép mà mở trường dạy trẻ và hoạt động trong phong trào Bình dân rồitham gia Việt Minh. Ngày cách mạng Tháng Tám ông 29 tuổi được cử làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trong cuộc mít tinh phát động Tuần lễ vàng hàng ngàn người xứ Thanh vây quanh anh cán bộ Việt Minh trẻ đẹp trai diễn thuyết dõng dạc đầy cảm hứng và mới mẻ về cách mạng về chính quyền nhân dân về nghĩa vụ người dân với nước Việt  mới độc lập có sức cuốn hút kỳ lạ khiến cho nhiều người sẵn sàng góp công góp của ủng hộ kháng chiến. Anh cán bộ Việt Minh tài hoa ấy chính là Hữu Loan thành viên Uỷ ban Lâm thời tỉnh Thanh Hoá phụ trách bốn Ty:Giáo dục Thông tin Thương chính và Công chính. Cũng buổi sáng diễn thuyết này có cô học trò 16 tuổi vô cùng ngưỡng mộ bởi tài hoa cậu Tú Loan ngày nào đẫ cởi vòng xuyến vàng góp cho kháng chiến.
            Kháng chiến bùng nổ Hữu Loan làm công tác tuyên truyền phụ trách tờ báo Chiến sĩ ở Mặt trận miền Trung.Ký giả chiến tranh Hữu Loan có chuyến đi công tác nhớ đời giống tráng sĩ cưỡi con ngựa đực bất kham từ Huế dong duổi dọc miệt rừng miền Trung đến với các đội Hồng quân mới từ thành phố làng quê đồng bằng kéo lên bưng biền tựa thế hiểm của  núi non hùng vĩ  dựng trận địa bước vào cuộc chiến đấu lần thứ nhất đầy khí phách: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Thay vì viết những phóng sự chủ bút Hữu Loan lấy thơ để diễn tả những tình cảm trào dâng trước thiên nhiên và người lính vạm vỡ gân guốc đầy nhiệt huyết buổi đầu cách mạng.
            Đèo cả !
            Đèo cả !
            Núi cao ngất !
            Mây trời Ai Lao
            Sầu đại dương
            Dặm về heo hút
            Đá bia mù sương !
            Bên quán Hồng quân
            Người
                 ngựa
                         mỏi
            Nhìn dốc
                  ngồi than
                         thương 
                               ai
                                   lên
                                        đường
             ... 
           Râu ngược
                   chào nhau 

                            bên sườn núi

           Giặc từ vũng Rô bắn tới
           Giặc từ trong tràn ra
           Nhưng Đèo Cả 
                    vẫn
                          giữ
                                vững
            Chân đèo nam
                      máu giặc
                      bao lần
                                nắng khô
            Sau mỗi lần thắng
            Những người lính Đèo Cả
            Về bên suối
                       đánh cờ
             Người hái cam rừng
                        ăn nheo mắt
             Người vá áo
                         thiếu kim
                                 mài sắt
             Người đập mảnh chai  
     
                          vểnh cằm
                                  cạo râu
             Suối mang bóng người
             soi
                  những
                           về
                                đâu ? !
       Đèo Cả gập ghềnh vạm vỡ chữ quánh đặc nhấp nhô như dốc đá tư thế kiêu sang tươi rói về hiện thực ngày đầu kháng chiến thật giàu phong vị sử thi. Sau này nhìn lại lịch sử văn học cách mạng Đèo Cả  cùng với Nhớ máu của Trần Mai Ninh được xếp lên vị trí mở đầu thời dại thơ ca mới. Nhưng bấy giờ với Hữu Loan Đèo Cả chỉ như lời tâm sự ông dồn nén chan chứa  yêu thương về cuộc kháng chiến sinh tử của dân tộc viết để gửi cho một người đọc cô Đỗ Thị Ninh người học trò cũ đẫ hào phóng cởi xuyến vàng góp cho kháng chiến. Họ nên vợ nên chồng vào hai năm sau đó đầu năm 1948 bấy giờ Hữu Loan là cán bộ tuyên huấn của một đơn vị chủ lực. Trong chiến tranh thật khó có hạnh phúc trọn vẹn. Chỉ bảy tháng sau ngày cưới Hữu Loan đang ở chiến trường nhận tin vợ mất. Tráng sĩ Hữu Loan khóc vợ bằng Màu tím hoa sim làm xúc động bạn đọc nhiều thế hệ. 
           Tôi người Vệ quốc quân
                         xa gia đình
           Yêu nàng
                          như tình yêu em gái
           Ngày hợp hôn

                         nàng không đòi

                                   may áo mới
           Tôi mặc đồ quân nhân
                          đôi giày đinh

                                   bết bùn đất hành quân

           Nàng cười xinh xinh

                          bên anh chồng độc đáo
           Tôi ở đơn vị về
                          cưới nhau xong
                                     là đi
           Từ chiến khu xa....
                          nhớ về ái ngại
            Lấy chồng đời chiến chinh  
                          mấy người đi trở lại
            Nhỡ khi mình không về
                          thì thương
                                      người vợ chờ
                                                bé bỏng
                                                            chiều quê !
            ... 
            Chiều hành quân    
                         qua những đồi hoa sim
                                   những đồi hoa sim 
        
            Những đồi hoa sim dài
                         trong chiều
                                    không hết
            Màu tím hoa sim
                          tím
                                   chiều hoang
                                               biền biệt
              Nhìn áo rách vai
                              tôi hát trong màu hoa
                                    “ áo anh sứt chỉ đường tà
                                                Vợ anh mất sớm
                                                              mẹ già chưa khâu “
             Từ đây sau Màu tím hoa sim nỗi đau riêng về hạnh phúc làm thay đổi tâm tính thi nhân. Chiến binh Hữu Loan hào hoa phong trần cưỡi ngựa đeo gươm ra trận làm thơ hào sảng đổi chỗ cho một Hữu Loan thâm trầm sâu nặng tình nghĩa con người. Hoa lúa Yên Mô Những làng đi qua...những bài thơ sau nỗi đau Màu tím hoa sim là những chấm phá tình quê tình người kháng chiến...
              Trời hạn
              Đồng chiêm mà nước cạn
              Giặc kéo qua đồng 
          
                         giày đinh
                                         đi trên lúa khoai
               Hoặc:
               Từng chiều
                              từng chiều hôm xuống
               Người lính hành quân 
                               trú mưa nhiều thôn xóm
               Có thôn xa
                               dăm mái tranh nghèo
               Có những thôn
                                giặc tàn sát hết
                Người sống không còn
                                để chôn người giặc giết
 
               Hữu Loan đi qua chín năm kháng chiến với mười bài thơ. Và đó cũng là toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông. Sang hoà bình sóng gió của những đổi thay đẫ đẩy ông rẽ sang hướng khác. Bước thăng trầm của ông bắt đầu từ cuối năm 1957. Một đêm Hà Hội nhiều sương muối buốt giá ông và nhạc sĩ Văn Cao trắng đêm dạo quanh hồ Thuyền Quang. Đến sáng thì Văn Cao tiễn ông ra bến xe để ông trở về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai.
             Bấy giờ Nga Sơn Thanh Hoá quê ông nghèo lắm. Ông lại tay trắng dắt vợ con về biết sống sao đây. Buổi chiều đầu tiên về làng Vân Hoàn thay vì đi thăm hỏi láng giềng ông cắp be rượu lên núi đá đầu thôn. Bạn ông người cùng thời nhà thơ Trần Dần về Nam Định kiếm sống có câu thơ làm ông sởn gai ốc: Cuối phố có ngọn đèn thắt cổ / Hãy chỉ cho tôi chỗ nào tôi đổ bớt tôi đi. Trần Dần đổ nỗi buồn thi nhân thăm thẳm vào đâu ông chưa hình dung ra nhưng với ông ở Nga Sơn này ông chỉ còn biết đổ lên đá mà càm cắp vợ con qua cơn giáp hạt. Vốn có sức như trai lực điền lại ở bước cùng không thể ngồi ngâm thơ nhìn các con hết gạo ông tưới rượu lên mặt đá mà thề sẽ bám đá để sống. Một chiếc xe cút kít. Một đôi quang sắt. Một xà beng.  Một cuốc chim. Một chiếc đòn gánh bằng cả khúc tre ngâm.Ông nạy từng khối đá đưa lên chiếc xe cút kít thô sơ đem đi bán ở các lò thợ làm cối làm thớt làm  kê chân cột và làm vật liệu xây dựng. Bán cả chục xe đá mới kiếm đủ ngaỳ hai bữa cơm dưa muối cho đàn con. Đã thế nhiều khi ế ẩm đá chất đầy vườn cả tháng không ai hỏi mua. Một năm hai năm ba năm...Hữu Loan trở thành người thợ đá da đen như sừng chân tay sần sẹo tua tủa tóc rễ tre đi đứng nói năng mạnh mẽ. Cặm cụi vật lộn với núi đá ông nuôi cả mười đứa con khôn lớn. Đến giờ cả mười  đứa con đã có chín  nên vợ nên chồng sinh cho ông đàn cháu 37 đứa. Chỉ còn cậu út là chưa lập gia đinh.
           Hữu Loan thôi bám núi đá đã mười năm nay. Ông lui về nhà trải chiếu trên thềm ngày ngày ngồi uống rượu ngắm rượuvà ngóng đợi con cháu về thăm nhà ngóng đợinhững chuyển động đổi thay của làng xóm của gia đình mình của phận mình. Dằng dặc ngóng đợi vận may cũng đã đôi lần gõ cửa nhà ông. Bắt đầu là toà soạn báo Văn nghệ cơ quan ông công tác gần bón mươi năm trước đưa đến tận nhà cho ông sổ hưu với mức lương gần hai trăm ngàn đồng/tháng. Rồi chờ thêm vài năm nữa ông được xuất bản tập thơ đầu tiên trong đời tập Màu tím hoa sim với mười bài thơ ông viết từ thời kháng chiến. Lại đợi ông được trời ban phúc con trai út chú bé ra đời trên lèn đá tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Cậu út kiến trúc sư đang tham gia quy hoạch Dự án bảo tồn khu di tích Bác Hồ ở Kim Liên Nghệ An. Nghe tin con thành đạt ông cứ ngẩn ngơ tiếc nuối giá còn sức như ngày nào ông sẽ chở một xe cút kít đá  ở cái núi đá từng nuôi sống gia đình ông về tận Kim Liên mà góp cho dự án bảo tồn một vài viên đá lát đường. Không biết có còn vận may nào đến nữa không Hữu Loan vẫn chờ. Cái chỗ bao nhiêu năm ngồi uống rượu ngắm rượu và chờ đợi mồ hôi thấm lên tường hình một bờ vai. Hình bờ vai lún dần lún dần xuống thấp có dễ không lâu nữa ngả hẳn xuống gần mặt chiếu. 
   
              Tôi ghé sát tai ông:   
        
    -Thưa bác bác có làm thơ nữa không ?
              Hữu Loan vẫn nhìn chén rượu:
              - Có. Nhưng toàn thơ đểu
              Bỗng nhiên ông cất tiếng cười cười khà khà mãn nguyện.
              - Bác thử đọc vài câu thơ đểu cho con nghe với nào ?
              Hữu Loan ngồi im. Lát sau ông nói :
            - Đọc Đèo Cả thì đọc chứ đọc thơ đểu phí rượu.
            Rồi ông như người bất ngờ vùng tỉnh dậy sau giấc ngủ dài tinh nhanh hoạt bát hẳn ra giọng vang và còn sáng. Ông đọc hết Đèo Cả không hề vấp váp. Đọc xong ông vơ lấy chén rượu nhưng không uống chỉ nhìn mà nước mắt rơi.
             Tôi có một chiều với thi sĩ Hữu Loan.