Hoàng Quý người hát du ca mùa đông ( tiếp theo )

nhưng luôn có khoảng lặng để òa vỡ thăng hoa để trò chuyện thậm chí tâm giao là bởi vì: “Bài nào ông cũng gửi gắm được những tâm trạng những suy ngẫm của mình về số phận con người và đặt cách lý giải những câu hỏi về kiếp người. Ông xông pha vào trung tâm của trận địa thi ca. Ấy là thế giới nội tâm đầy mâu thuẫn phức tạp sâu xa với những chấn đông lớn và cả những rung động tinh tế vi diệu nhất của con người” (trích theo Nguyễn Đình Chiến - bài đã dẫn) Hoàng Quý khái quát cái giấc người phập phồng nỗi phì nhiêu. Là thực! Mà bỏng mơ: Rất nhiều khi ta thảng thốt mơ giấc phì nhiêu của đời người. Em đâm đuống em trỗ ống ta đánh cồng và ca hát khúc ca của Mường Người. Đây là non xanh kia là thung xanh con trâu thở hơi sương tung bọt dãi dưới vòm tre kẽo kẹt. Thằng bé đánh cù con cù quay tít. Ông ké già bà ké già tóc xòa như cước vẹo xiêu men đắng men nồng. Vũ trụ bơ thờ hương lửa. Ta và em ngắm nhìn mê sảng giấc phì nhiêu. (Giấc phì nhiêu) Trong cái giấc ái ân mãi mị quan xoay lính xoay quản tương xoay mọi cá thể và cả đa thể xoay mù tít quanh chiếc đèn kéo quân giấc người. Em ư tôi ư có có không không hay khứ lai vô ảnh: …

Em tha thiết

em tươi nồng vũ trường chớp xanh chớp đỏ

Chợ chạ người anh khoe sức lực điền kẻ xem người trả

Em nhìn ta đăm đắm như buồn một thuở

thánh thót loang dài nước mắt phì nhiêu.

(Giấc phì nhiêu)

Có một lượng bài đáng kể cái “Cánh đồng người” nắng phơi mưa táp réo xiết thơ ông. Có thể coi đó là âm chủ trong giao hưởng thơ Hoàng Quý. Ông lấy nỗi người làm trung tâm hầu mọi bài thơ trong cả những trường ca đôi khi tê cóng đôi khi quyết liệt và bức nóng. Ông buồn cùng nỗi buồn người ái ân trong giấc người và không lạnh lẽo tìm quên. Đôi lúc vĩ thanh vụt gắt cũng là vị người thôi:

Tôi đã đến đã gieo trồng và vun xới

Trên thửa ruộng tôi trên cánh đồng đời

Tôi đã đến đã tìm và đắm đuối

Trong hoang mang những Cánh - Đồng - Người!

Những cánh đồng ngổn ngang và xanh tươi

Ông đã cày cha đã cày ta đã cày rồi con ta cày xới nữa

Gieo xuống những gì gặt hái những gì

Trong phì nhiêu có nắng bão nước và lửa… …

Tôi đã đứng thẳng và đã khom xuống không chỉ một ngày

Đã đứng thẳng và khom xuống giữa chấp chới những sát - na tối và sáng

Giữa đỏ và xanh

Giữa đen và trắng

Giữa đối nghịch và yêu thương

Đã cho

Và đã xin…

(Tự khúc)

Và tất nhiên trên cái cánh đồng lẽ ra con người cần trách nhiệm cần cố kết thì tốt đẹp nhường nào. Ông nhận chân vết chân tơi tả dẫm đạp bởi vụ lợi làm đớn đau:

Tôi đã đến đã gieo trồng vun quén

Trên thửa ruộng tôi

Trên thửa ruộng đời

Tôi đã nhìn đau đáu

Thấy thửa ruộng kia tơi tả vết chân người…

(Tự khúc)

Một lần cùng vợ ghé Cổ viện Chăm ở Đà Nẵng bà thấy ông chôn chân trước những linga tượng vũ nữ những ngựa chiến voi thần hóa đá. Dường lệ đá thấm thấu ông. Ông thấy cái giấc Kinh kha đầy khí lạnh:

Dâu bể bảy trăm năm

Lạnh lẽo bảy trăm năm

Những vũ nữ nhìn câm trên đá lạnh

Ngựa chiến rũ bờm

Voi thần chết lặng

Tiếng gầm sôi thôi có phôi pha

Trụ phồn thực chuốt căng vòng vú đá

Núm nhụy vồng cong xa xót giọt hờn

Núm bình minh của em

Núm hoàng hôn của mẹ

Lặng thinh tứa những giọt buồn

Trong ánh chiếu thâm u như huyễn hoặc

Hết tất rồi Shiva!

Lịch sử một mai rẽ đường tiệt diệt

Hết rồi Shiva!

Tôi đứng chôn chân soi từng ngấn lạnh

Sẹo đá giăng dày những vết tai ương

Trên hằng hà u linh khoét vẹt mòn sa thạch

Khóc cùng tôi tan nát linh hồn…

(Trong Bảo tàng Chăm)

Cái nhìn rất riêng giọng điệu thăm thẳm ai nhẫn mà thình lình chớp mi ngay cả trong những bài thơ ông tự xếp vào loạt bài thơ tình theo cách ông dưới đây chỉ là ví dụ:

Những cơn mưa chưa chạm mặt

Đất khô xót cả bầu trời

Hồ rộng có bông sen nở

Không buồn tàn phai!

Lại đàm mây đen ứ trong tâm tưởng

Ta tìm gì sau rũ rượi mồ hôi

Tìm hoài mà chả biết

Em gái cười ta cười mãi không thôi

Cuối đồng từng đám rạ cháy

Đom đóm mở đèn rong chơi

Cây gạo trong chiều chạng vạng

Cháy - một đài hoa lên trời…

(Tự tình)

Hay trong bài “Chợt cúc” một bài thơ đọc xong dường chữ bay đi chỉ còn dư ba ở lại. Cảm giác như ông thuộc làu Bạch Cư Dị lĩnh hội chuyển hóa được cái lối viết vô ngôn:

Sáng nay

Một bông cúc vừa nở

Chả biết nó thuộc giống cúc gì

Quên hỏi người cho cúc

Người tặng khóm non từ mấy tháng trước

Cắm đại ở góc vườn

Tưới đôi ba lần

Rồi thôi

Rồi quên

Sáng nay một đóa nở

Như vàng chớp

Như nắng nhen

Chợt nhớ người cho cây

Chợt nhớ heo may trời người

Chợt nhớ câu thơ “Mùa thu vào hoa cúc”

Thu rồi!

Mà ta quên…

Ánh nhìn vi tế ngôn ngữ nhẹ lan thi ảnh diệu ẩn tâm trạng thanh êm ngỡ như vô tâm không sắp đặt. Cảm xúc thăng hoa tạo được hiệu ứng gợi nghĩ nhiều cung bậc. Thơ Hoàng Quý viết tưởng không bận tâm vận công nhưng không phải mà do “Nội lực ông thâm hậu bút lực dồi dào mạnh mẽ” (Nhận xét của Nguyễn Đình Chiến). Vì thế khi đọc tập “Ngang qua cánh đồng” cố nhà thơ - nhà phê bình Trịnh Thanh Sơn từng kêu lên: “Đây là thơ của một hồn thơ trữ tình mộng mơ và nhiều chiêm cảm. Đây là thơ của một thi sĩ có thể song hành với thơ dài lâu. Đây là thơ của một Người thơ mà thơ có thể tin cậy được”. Trịnh thi sĩ cũng không ghìm nén phẩm bình khảng định:” Một giọng thơ vâm váp tràn đầy nội lực có bản lĩnh và rất tự tin”. Ông ghi trong bút văn gọi Hoàng Quý là “Một nhà thơ sung mãn và độc đáo”. (Dẫn theo “Đi dọc cánh đồng thơ” quyển 2 nxb Hội Nhà văn 2006). . Quê sinh như tâm nhang trong thơ Hoàng Quý. Nghĩa phu thê như giọt ấm giêng hai trong thơ Hoàng Quý. Nơi mẹ sinh ông là làng Bủng Thượng cái làng gò đồi cái làng đồng rừng xơ xác ngay chân núi Thắm vùng Thanh Ba Phú Thọ - ngọn núi rồi thành địa chỉ đáng nhớ sau cái thiên truyện “Ông lão chăn bò trên núi Thắm” héo hon buồn của nhà văn Xuân Thu (Bùi Xuân Tùng). Cha mẹ vội vã rời Hà thành trong cuộc tản cư lịch sử mùa đông 1946. Ông chào cuộc người lúc nhá đèn năm Thìn khi mẹ ông chỉ còn thứ có giá duy nhất là bọc hạt sen khô do một nhà sư quý hóa cho mấy ngày trước. Mẹ ông kể ông sống được là nhờ những hạt sen từ tâm giữa cái đận lao đao tưởng chừng cả nhà sẽ vật xuống ở rừng này. Đó có phải là ngọn nguồn cách ứng xử Phật thiện của ông chăng? Ba lần đoạt giải văn chương đều dành tặng không giữ dù một hào nhỏ. Lần giúp cứu một người tù suy tim mới mãn hạn đổ gục trên đường tàu ở ngõ Nhà Dần thị xã Phú thọ. Lần nuôi một cháu nhỏ bị lạc cha mẹ ở Vũng Tàu…Và nhiều việc từ tâm không mấy người biết. Tôi nhờ đọc những tin văn trên báo chí và lần vui chuyện với bà Liên người vợ hiền của ông buột kể trong lúc ôn nhớ vài mẩu dĩ vãng. Tôi muốn có vài dòng về nơi sinh ông. Cái núi Thắm quí linh mà tôi vừa nhắc bên mạn mái tây bắc thuộc địa hạt huyện Thanh Ba là nơi chào đời của Phạm Tiến Duật. Duật sinh ở làng Đồng Bở cũng làng đồng rừng cách Bủng Thượng rất gần. Mạn đông bắc lại thuộc Hạ Hòa thi sĩ Lưu Quang Vũ cất tiếng khóc thứ nhất ở thôn Gia Điền cũng làng rừng úp bát. Hai mạn núi rộng lớn chứng sinh ba nhà thơ. Thơ của mỗi họ đều thuộc tiếng thơ bậc người hiền. Họ đều mặc áo lính thời chinh chiến. Số phận thuận mùa hay ba đào chìm chĩu có thể không giống nhau những cung đường đời có thể nhiều khác biệt nhưng Thơ là nợ nhân gian mỗi họ. Trong biên niên hành trang tinh thần họ trung du nghi ngút chảy nơi thượng nguồn hóa sinh:

Trung du!

Ngăn ngắt ngàn xanh

Sông vờn uốn quanh Sông Đà sông Lô sông Thao mênh mông

Trung du!

Chập trùng núi non mờ sương

Lượn vòng bãi sông phù sa

Gập ghềnh đồi thung …

Dòng Thao trôi

Dòng Lô trôi

Đà Giang ơi!

Đồng bãi phù sa cổ kính còn đây

Đường làng đầy nắng tươi vàng khoe sắc rơm phơi

(Trung Du)

Bài thơ khỏe khoắn vạm vỡ mà mịn như dải lua lập tức đi vào ca từ trong một hợp xướng của nhạc sĩ Hoàng Hà. Hoàng Hà có lần nói: Nửa thế kỷ làm âm nhạc chỉ duy nhất thơ Hoàng Quý như Chiều nay mùa thu Mang theo mùa đông…và đặc biệt là Trung du hòa hợp tôi. Khi phổ nhạc thơ Hoàng Quý tôi không có lý do thêm bớt dù chỉ một từ. Lời tâm sự của người nhạc sĩ danh tiếng đã là lời bình. Như đã nói quê sinh là tâm nhang trong thơ Hoàng Quý. Nén tâm nhang cháy âm thầm nội tâm ông. Nhớ quê sinh nhớ bạn ông viết:

Bạn ở ngoài kia còn nhắc ta không

Ta đã xa người mười năm có lẻ

Thư ta viết đã mấy lần dập xóa

Mấy lần e thẹn gửi cho nhau

(Thư cho làng đồi)

Trong bài thơ tâm sự dưới dạng một lá thư ông nhắc từ cây cọ nhắc bến cũ bóng xưa nơi ông từ đó ra đi phỏng cũng hoang đường: Khấp khểnh khập khềnh sông Thao mùa lũ/ Bứt phăng ta về phía những hoang đường. Và lời xin tha thiết như là tự vấn như là dằn vặt như còn hồ nghi:

Này người ơi cho xin một lời thương

Một chút làng đồi một chiều sương đẫm

Những hàng cọ ngày xưa xiêu vẹo đứng

Có còn khỏa lòng tay xanh ngắt lên trời!

(Thư cho làng đồi)

Có thể đọc niềm nhớ quê sinh trong loạt bài thơ: Tu hú kêu chiều Bên bến sông xưa Viết ở sông Vàng Hát xoan Gửi Kim thi sĩ và nhiều nữa. Bài nào cũng khắc khoải vệt buồn trong vắt phập phồng trong ngôn ngữ rất riêng. Trong thể loại thơ văn xuôi một thể loại ông viết rất ít gồm: Giấc phì nhiêu Ảo ảnh Hơi thở mùa xuân Ngang qua cánh đồng và vài bài khác tôi chú ý một bài có tựa đề rất lạ bài: “Và em và anh và mùa thu”: Anh gần kiệt mùa đi gần kiệt nỗi xác xơ mới ngoái thu sương mới biết vì thu mà tóc bạc mới thấu lửa em vì sao ngun ngút vì sao sen tận chói chang tận ngác ngơ rồi nhè nhẹ vút đài hoa day dứt. Anh đầy lau hay lau đầy anh? Diệp lục phai anh hay anh phai diệp lục? Điều gì chăng còn gì không sương âu yếm ướt bầm thu như thế! Em âm thầm tận hiến không giữ gì riêng cả chỉ mong mùa êm anh dẫu thu nhuốm phai dẫu bao lần anh giở xanh giở đỏ cứ hiền nhẫn tro than nuôi lửa dù anh đang thu hay phai tàn thu dù anh hoang tàng hay cơ man uổng phí vẫn nguyên em bời bời hương tỏa bởi em còn tin sen vì bùn sen xanh sương nhuộm thu sương hồng lá ngọt thu lá chín… Và đêm nay thu rưng rưng che chở chỗ ta ngồi em gom góp bóng thu xếp một vầng sen rồi dịu dàng nhóm lửa! Bài thơ này ông viết thuộc hành trang thơ riêng. Nó hiện chưa có trong các tập thơ đã in. Bài thơ có yếu tố bút pháp bán tương trưng ông hay sử dụng. Cùng các bài Em về bên tôi Mắt biếc Buồn Tường vy Bài thơ cuối hạ Thư ở sông Hàn…bài dẫn trên cũng thuộc chùm thơ ông viết tặng người vợ thủy chung người chăm lo và lặng lẽ gánh vác mọi việc là nơi ông được an ủi trong ngày tháng kiếm sinh và cả đường thi ca nhiều bất trắc: Chiều nay em ạ ta buồn Bùa mê cỏ lú ta biền biệt xa Một đời vọng nguyện cho ta Rằng là chân cứng rằng là đá non Trăng chưa khuyên đã héo mòn Trăng còn thế tháng ngày em còn gì… Em về chân vấp nẻo khuya Ta đi chân vấp tứ bề nhân gian! (Lục bát cho em) Và đây nữa: Người còn ở phía xa xôi

Ta co ro trước biển trời rộng rênh

Trời xanh xanh đến ngại ngùng

Gió kêu khan tiếng mây chùng chình trôi

Áo buồn khăn lạnh người ơi

Không người ta biết ai người tri âm

(Một mình)

Dành một khoảng không gian thơ riêng cho người bạn đời và cũng là tri âm thiết nghĩ cái nghĩa tình phu thê mà ông là người chịu ơn từ người vợ phúc nhẫn đã giúp ông tìm được nhiều “không gian mềm” ngay cả trong dòng chảy riêng ”Không giống như một dòng suối róc rách mà giống như một thác nước xối xả tuôn trào”(Trịnh Thanh Sơn - Đi dọc cánh đồng thơ quyển 2 nxb Hội Nhà văn 2006). Và chỉ ở những tình yêu trung thực mới có được những câu thơ trung thực chắt ra từ cách nghĩ rất Hoàng Quý:

Em vẫn nói về ta vẫn nhắc về ta

Âm thầm đọc câu thơ mùa rụng lá

Em vẫn yêu ta vẫn rất yêu ta

Bông sen muộn xót xa mùa hạ

Ta cầm tay nhau nắm lấy tay nhau

Đừng hỏi câu buồn tháng ngày xa cách

Sao nghe lạnh buốt trong người

Tiếng hú gọi vang trong tiền kiếp …

Em rưng rưng thảng thốt gọi ta về

Vẫn thiết tha như ngày xa ngái ấy

Như sen em nở hết mùa mình

Ta cuối hạ! Ta tàn thu trước mặt…

(Bài thơ cuối hạ)

Tôi muốn ghi bên lề bái thơ này bà Liên vợ nhà thơ được vị sư trụ trì ngôi chùa Hoàng Quý đọc sách Phật và ở một năm đặt pháp danh là Như Đài tức đóa sen. . Với Hoàng Quý ý thức tự lập tự chịu trách nhiệm trở thành bản lĩnh sống của ông từ rất sớm. Tôi nhớ rằng năm Hoàng Quý vừa học xong lớp một nghĩa là mới bảy tuổi người anh trai thứ ba đưa ông về Hà Nội rồi lôi tuột xuống Hải Phòng giao cho người em có vợ con tận làng Tràng Duệ huyện An Dương tỉnh Kiến An. Không hiểu người anh của Hoàng Quý được trang bị cái lí thuyết cải tạo cho “nó” (Hoàng Quý) trở thành người của giai cấp tiên phong như thế nào chỉ biết dấu ấn tháng năm người anh lôi khỏi mái ấm rất sớm ấy hằn vệt đẫm trong thơ ông sau này. Lúc người mẹ đón Hoàng Quý trở về thành Hưng Hoàng Quý kể về cách bắt cua bằng que móc những ngày vớt rươi tiết tháng chín tái lạnh những cơn mưa gọi nước cách thức làm vó tôm nhưng kiểu đặt trũm đơm lờ cách chọn cói tốt có thể cắt bán cho người kẻ dệt …làm đám liu riu tròn mắt. Đặc biệt cái phương pháp ủ đốt khi nấu cơm bằng “củi” toàn rơm rạ nát mót được để nấu một phần gạo chín phần khoai lang khô làm sao chín đều cơm riêng khoai riêng thật chả dễ chút nào. Không biết có phải từ cái dấu vết Tràng Duệ nên nhiều năm chúng tôi chung học sau ngày Hoàng Quý trở về hình thành một người bạn thích một mình hay nghĩ đâu đâu không câu chấp mọi chuyện hay chúi vào những cuốn truyện cổ kim hiếm hoi…Tôi không hiểu mọi sự. Cũng chưa có dịp hỏi cặn kẽ. Thời gian được ông anh lôi đi “giác ngộ” có thể là hạt nhân cái hạt thủy sinh khởi giòng chảy một tiếng thơ vạm vỡ mà trữ tình mấy mươi năm sau lấy tích nghiệm làm nguyên liệu lấy số phận con người làm căn bản nội hàm cho thơ: Ta đi trong cuộc cờ đời Khi thì khóc lúc lại cười ha ha Có lần ta đối diện ta Ngây ngô tự hỏi: ta là ai đây? (Bốn câu) Rồi đây nữa: Như ngọn gió thiên di trên mặt đất Mê tơi anh đi trong cát bụi đời người Bên lẻ chán dành anh gieo bên chẵn Tiếng bạc sau cùng lộn túi ra chơi …

Như ngọn gió thiên di trong trời lộng

Trên mây hằng hà lớp lớp là mây

Không đáng đồng cân cuộc bay anh không trọng lượng

Ngoài trời còn trời mà mây lừa tay

Nương ngọn gió anh đi tìm được mất

Anh sục vào bùn Anh chui vào đất

Cỏ rất nhiều nhưng mùa gặt mấy hoa

Có lúc phổng phao cây mà chẻ ra toàn bấc

Giọt đèn anh liệu cháy được bao ngày!

Như ngọn gió ngang qua cõi tạm

Cát bụi kia rồi cũng lọt qua tay...

(Đi nương ngọn gió)

Nếu ví cuộc đời Hoàng Quý như một chuyến đi thì nó đúng cả nghĩa đen và nghĩa biểu tượng. Ông cuốn theo những xê dịch có tính số phận. Thơ cuốn ông tìm câu trả lời cái u khuất người nhịp thời gian hư hóa ngõ ngách biến thiên của đời sống tựu chung là bản lai hình - tượng - con - người qua nghiệm ông tất nhiên!: Ta muốn an ủi em rất nhiều lời chim phượng Những lời chim phượng lên men trong từ vựng là a là b là c…

Là con chúng mình rồi cường sinh như

Gióng Mọi ngõ ngách đâu đâu cũng dáng hình Phù Đổng

Sau cuộc hiến sinh

Cứ tưởng toàn áo cưới

Cứ tưỏng ruộng cày mãi thuộc về em đấy

(Mà ruộng cày rất rẻ Như rau rưa trong vại nhà ta!) …

Tương lai không định sẵn cách tìm

Tương lai gợi những thuộc tính của mong ước

Tương lai như nước xiết

Nhọn như nước Sắc như nước

Cũng có thể…

Đục và váng vất như nước …

Ta! Và em! Đều được mẹ cắt nhúm bằng ca dao

Tắm bằng phong ngôn

Phòng vệ bằng tục ngữ

Câu ca dao phóng túng như diều mềm yếu như diều

Phong ngôn như lụa buộc

Tục ngữ thành giáp mộc lao tên

Chúng ta quen định vị tình yêu bẳng những thách đố kiêu hãnh

Rằng trạch đẻ ngọn đa ta sang cưới em

Em có tin mình đoan trang như trúc

Áo phong tình vin trĩu cả cây ngoan …

Câu thơ chảy trôi từ trái tim rung máu và nước mắt

Chắt hằng đêm sau rất nhiều lực hút

Mảnh mai trăng và ướt mưa bay

Níu hy vọng sau mùa màng thất bát

Gìn giữ khuôn mặt ta yêu mờ tỏ trước đèn

Cả tiếng khóc cười em

Cả bước mẹ liêu xiêu trước cửa nhẫn nhịn …

Có một ngày một ngày

Em tô son em chen hích chợ đời

Thích rổn rảng Helo mà không chào bằng tiếng mẹ

(Đối thoại trắng)

Để rồi ông nhìn thấu bởi quá cả tin quá nhiều hy vong ngập ngụa những phờ phỉnh những huyễn hoặc mộng ảo hư danh đến độ: Lấy cả trời xanh gương lược cho mình/ Em - Cội rễ của thu vàng thì ta quên hết.(Đối thoại trắng). Cái căn bản cần là Nhân Ái - Độ Lượng là cội rễ bền dai của Đạo Hạnh thì loài ta…hay quên! Hoàng Quý đi nhiều quá. Làm một cuộc điểm danh những vùng miền những địa danh hiện hình lộng lẫy trong nhiều bài thơ có thể biết được phần nào bước chân ông. Vừa thấp thoáng nơi “Phố nhỏ duềnh trong sương ngọc/ Ngựa hồng nhịp móng trong mây với tíu tít Đường gấp hoa đào nhớm tóc/ Cánh rơi tưởng dấu môi ai/ Em gái H’mông xuống chợ/ Khăn rung đỏ cả mặt người phóng túng man mê trong “Nâng Sa Pa tràn tay” đã gặp trời thu sông Hàn tao mặc:

Em ạ sông Hàn nắng đã phai

Dòng châu chín lịm sắc thu rồi

Vòm quang mây biếc hàng cây biếc

Trời đất xênh xang cả mắt người

Tiếc thế giá mà em ở cạnh

Ta men dọc gió tới Hòa Vang

Thèm trông non nước trèo Non Nước

Tàn chiều lội ngược Ải Vân quan

Ở đây thu đẫm từng con phố

Thu đẫm lên chừng cả dáng cây

Những người buôn gánh tràn ra ngõ

Bưởi quýt lòong boong na mít đầy…

Đà Nẵng lập thu dường rất sớm

Cầu Hàn cong lả nét mày duyên Em ạ!

Giá mà em ở cạnh

Ta lên cầu Thu…theo ta lên...

(Thư ở sông Hàn)

Viết những bài đưa cả địa danh vào thơ thì hầu các thi nhân đều làm. Nhưng viết nhiều nhưng có thể hay đến độ bài nào cũng truyền lây sang người đọc là không nhiều thi sĩ thành công. Hoàng Quý xuất sắc trong số ít đó. Ví dụ khi ngang qua Cấm Sơn nhớ Thi sĩ Thôi Hữu từng đề thơ lên miền thẳm ông viết:

Một dốc Hai dốc Rất nhiều dốc

Bỗng gặp nắng đầy thung lũng thơm

Bản làng cuối chạp lơ mơ rượu

Anh bỗng dưng thèm môi mắt quen

Cấm Sơn ruộng núi như thang bắc

Tầm xanh thác trắng nước reo òa

Có người em gái môi khèn lá

Hương mặt trời ánh ướt thịt da

Một dốc Hai dốc Rất nhiều dốc

Cấm Sơn ngày này tôi mới qua

Câu thơ người hái thời chinh chiến

Còn tươi trên lá đến bây giờ.

(Tời Cấm Sơn nhớ thi sĩ Thôi Hữu)

Thiên nhiên con người Cấm sơn vào thơ Hoàng Quý thật diễm ảo lung linh! Pha Đin đầy tâm trạng trong “Viết trên đèo Pha Đin” Tên sông và địa danh Châu Ổ Ba Làng An ngân rung trong “Ngẫu hứng sông Trà” bến Ninh Kiều lả lơi say trong “Đêm tài tử”v.v. Bao nhiêu tên vùng miền địa danh cả Bắc Trung Nam hễ ông mài vào nghiên thi là quậy cựa sống đông có khi tinh ảo đến độ có thể nghe được cả tiếng nhạc vang lên qua chữ: “Lách cách leng kheng xà tích xà tang/ Vòng cổ vòng tay chói sáng lấp loáng/ Vừa nhịp ống ép khung khinh lên tiếng/ Đã rộn ràng Đuống chọi cắc cung khoang (Một thoáng hội Mường). Nhà thơ Nguyễn Đình Chiến đến được nơi nào là lôi ngay một bài thơ viết về nơi đó của Hoàng Quý ra đọc vừa cảm sướng vừa…được việc. Nhưng Nguyễn Đình Chiến nghiêm túc khi nói: “Các nhà thơ cũng hay đưa địa danh vào thơ nhan nhản chỉ là điểm kê vô hồn. Địa danh vào thơ bậc tài nhân chứa đựng hồn non nước cả hình bóng tha nhân dưới lấp lánh chữ…”. Một nhà thơ sống cùng tôi ở Nha Trang khi đọc “Chốc lát Cao Bằng “ của Hoàng Quý bàn mãi về từ ướp trong câu cuối. Xin chép bài thơ ngắn này cùng đọc:

Biên giới đây

Tổ quốc tận cùng đây

Đèo Gió Đèo Giàng ngợp đầy trăng sáng

Dẫu chỉ là chốc lát lên thăm Sông Hiến sông Bằng vẫn chảy

Xin nâng bát ngang mày

Xin rót nữa!

Rót tràn câu sli lượn thơm nồng

Uống đầy em uống đầy đêm ngây ngất

Áo chàm chao nghiêng ngả cây rừng

Mai chào biệt tôi đi về cuối biển

Bỏ lại trời lại núi phía sau lưng

Riêng câu hát với rượu dâng em ạ

Còn ướp đêm biên tái Cao Bằng!

Tách riêng “thơ địa danh” ghi dọc đường Hoàng Quý cũng đầy đặn một tập thơ hay. Cố thi sĩ Hoàng Cầm chàng Trương Chi miền Kinh Bắc từng nói như vậy. . Hoàng Quý đề thơ ở các địa chỉ ông qua có như là cách cân bằng tinh thần trong hợp âm chủ ào ạt của giao hưởng thơ ông? Có thể đấy cũng là thuật “lấy đà “ trước khi dấn sâu hơn vào những mở ngỏ ông thao thức? Đọc những tác phẩm đã in và phần đã công bố trong hai trường ca “Kịch câm và trò chơi” “Đối thoại trắng” có thể nhận thấy những khoảng cân bằng này. Cứ sau loạt bài vạm vỡ nhiều day trở có lúc quyết liệt lại là những bài thơ tiêu dao êm nhẹ hơn. Hoàng Quý có thói quen sắp đặt sáng tác theo trình tự thời gian do đó ta có thể suy ra như vậy. Là nhà thơ không tham viết vội vã không in nhiều để tính đầu sách thơ Hoàng Quý luôn có phẩm cấp là thứ thơ thuộc ”loài” thơ trung thực. “Không bao giờ ông chịu viết non tay”. Dưới tầng chữ là những nghiệm sống hoặc vết hồi chiếu từ đời sống muôn màu phức hợp tích tụ nhưng chọn lọc kỹ. Nói như thi sĩ Đỗ Trung Lai: “Thơ Hoàng Quý là thứ thơ để đọc và là một tập người để chơi”. Nhà thơ tài danh có tính khí rất ngang tàng họ Đỗ ít đánh giá ai quý yêu và trọng thị đến vậy. Những vẫn đề Hoàng Quý viết đôi khi gây sốc hoặc dễ cám dỗ lối suy diễn phức tạp nhưng nhờ trung thực giỏi dụng thi ảnh thi pháp ẩn dụ nhiều tượng trưng ông có thể “nói” gọn gàng dễ dàng và sinh động bằng ngôn ngữ rất riêng:

Chợt sông Trà

Một đêm trăng man dại

Bỗng xót câu thơ

Chu Thần hỏi trăng “Vì sao quyến luyến đi không nỡ”

Chén rượu mời trăng “Trăng vào đi trong chén”

153 năm còn sóng sánh hương trăng

Ta muốn hỏi sông hỏi vầng trăng đỏ

Hồn Chu Thần còn đâu đó không?

Chao ôi! Trăng - Sông - Bất - Tuyệt

Anh hùng đã đi!

Mỹ nhân giờ mĩ miều khỏa thân lên mạng

Trai dũng mặt đỏ đáo đôn hợp đồng hai ba bốn chiều

Đến ma

“Tồn Chân bạn cũ cửa sông Đà” cũng bứng về Văn Điển

Keo dính chuột maketin đến tận thềm nhà

Chữ nhạt múa dao phay loang loáng

Quan xơi đất xơi tình như xơi thức ăn nhanh

“Vương vấn tình người xa nhau” là món hàng xa xỉ

Trượng phu chống kiếm nhựa

Làm sao đàn bà lúc phân ly còn dám khóc òa!

Trời ạ! Trăng sông man dại

Bỗng muốn đọc to “Trà Giang thu nguyệt ca”

Trời ạ! sông này trăng ấy Lòng bỗng tái tê như là…

(Trăng sông Trà)

Có khi ông nén bào tâm vào thơ gửi bạn - gửi nhà văn Hà Đình Cẩn ta vẫn nhận được tín hiệu ông những day dứt không ngừng cảm giác ớn gai đâu đó cách diễn đạt gặm nhấm và thức dậy cả một quá khứ:

Ô! Chim vít vịt sao lại kêu cữ này

Chim vẫn thường kêu vào tháng tưng bừng sương

Sốt ruột mà kêu sớm?

Bây giờ mới tháng chín!

Hay chú chim huyền nhung

Thảng thốt giấc mơ thời gian thần thánh

Những giấc mơ ràn rạt muỗi mòng

Những giấc mơ chỉ phong lương khô cũng ngang giá một lời an ủi

Cuối một đêm rùng mình đếm đồng đội thưa ngón tay

Cuối một đêm rưng rưng mắt huyền xa hút

Võng chao đảo ta

Ghì những trang nhàu mưa phù thũng nước

Cố giỗ một giấc ngủ

Giấc ngủ lem lém cháy

Giấc ngủ lem lém máu

Giấc ngủ bất trắc…

(Đêm qua có tiếng chim vít vịt)

Dụng chữ tài tình nên có cách diễn đạt uyên ảo. Hoàng Quý có kho vốn tiếng Việt rất phong phú nghệ thuật chữ tinh vi. Không ít nhà thơ dùng tiếng mẹ đẻ hình như không thạo hình như ẩu hình như biếng nhác trau dồi lười mài cho chữ nhọn sắc. Dân trí ta đã tương đối cao nên những bài thơ với giọng điệu trơn phẳng quẩn quanh bức bí đọc cứ gường gượng hoặc sáo mòn thế nào. Không làm chủ ngôn ngữ và tích nghiệm vốn đời thơ khó bay lên. Mở cửa nhìn ra thế giới và tiếp nhận những gì là ở mỗi nhà thơ. Nhưng đọc một bài thơ của nhà thơ Việt Nam tiếng Việt trong ngôn ngữ biểu đạt thế nào sẽ rõ tác giả thế ấy. Thơ Việt ngày càng hay nhiều tác giả trẻ có tài năng và báo hiệu đường thơ trường lực. Tuy nhiên có không một số thi bản của không phải ít ngộ ngôn lý sự nhạt hoặc vay mượn chữ sống sít sần sượng mà lớn lối hình thức này trường phái nọ tưởng Ăng - lê hóa thơ Mỹ hóa thơ là nhảng chân vào thế giới. Thậm chí vô số bài viết cổ súy thứ thơ đọc không hiểu mô tê răng rứa mà thổi phồng là đầy ắp triết luận nhân sinh ẩn chìm sâu xa rằng người đọc phải tìm ra khóa giải mã mới thấu thị thì rất khôi hài. Chìa khóa của thơ hay là đọc bị hút vào bị ma lực thơ lôi đi ám ảnh rồi lâng lâng “sướng” bồi đắp nghĩ suy v.v. chứ sao mù mờ những mã là mã. Hoàng Quý thuộc số các nhà thơ tự trọng tiếng Việt ta. Thơ ông lao động chữ nghiêm cẩn có ý thức sáng tạo chữ cho phong nhiêu tiếng Việt. Những đuềnh đoàng ánh ướt thưa thót muội mê xanh…hay nhiều từ ông sáng tạo khác có thể gợi nghĩa mới cần ghi nhận là đóng góp thêm vào kho tàng tiếng Việt. Chưa phải lúc tổng kết một đời thơ. Chưa có điều kiện đi sâu vào năng lực tinh thần và hướng tìm chọn cách tân thơ mà vẫn nhuần Việt của nhà thơ. Nhà thơ Hoàng Quý vẫn đang sung sức và mạnh mẽ trong nghệ thuật ngôn từ do vậy hy vọng sẽ trình bày ở các bài viết khác ở những hướng tìm khác. Dẫu thế trong thi giác tôi thơ ông như những khúc du ca mang nỗi người phong kín băng đá. Tổng thể thơ ông thăng hoa nhiều ước lệ. bật thốt đi ra từ nhiều nỗi buồn vạm vỡ. Ông viết một thứ thơ thanh và trong minh trí sang trọng nhiều uyên ảo nhưng cũng nhiều sương gió. Thơ Hoàng Quý se se lạnh và đẹp rất đẹp. Khi vạm vỡ vẫn ẩn buồn trong vắt phía sau thơ. Đề tài rộng tung phá và chất chứa niềm thế nhân. Bao nhiêu nhà văn nhà thơ nhà phê bình văn học đã bình viết về thơ ông: Trinh Đường Ngô Quân Miện Vân Long Y Phương Trịnh Thanh Sơn Vũ Nho Đỗ Trung Lai Ngô thị Kim Cúc cả vợ lẫn chồng cặp thi sĩ Phạm Hồ Thu Trần Quốc Thực Nông Thị Ngọc Hòa Nguyễn Đình Chiến…và rất nhiều tác giả đương đại ba miền Bắc Trung Nam.Tôi nghĩ đó là tao hạnh cho một thi sĩ. Những khúc du ca ông dành tặng con người rồi còn dài lâu cùng năm tháng. Và xin dẫn bài “Du ca mùa đông” thay cho vĩ thanh:

Cứ loay hoay tìm mãi đốm than hồng

Cửa bỏ ngỏ trái tim bỏ ngỏ

Ai hát khúc du ca mùa đông

Cô xót cả vòm trời cám dỗ

Ta dửng dưng không thèm ta nữa

Cây sấu chua bẻ lá cho người

Thương tóc tiếc một đời rũ gội

Buồn thơm thảo sấu chua ơi

Rồi sông Sông bèo bọt trôi

Rồi đồng Tìm không bóng người

Rồi nghe Đất chừng đã lạ

Xòe tay Ướt khói sương trời…

 

Nha Trang cuối Chạp Canh Dần

NGUYỄN CHÍNH

 

TÀI LIỆU TAM KHẢO

-Tuyển tập Thơ Việt Nam 1975 - 2000 nxb Hội Nhà văn 2000. - Tuyển tập Thơ văn xuôi Việt Nam và nước ngoài nxb Văn học 1997. - Thơ mười năm đầu Thế kỷ XXI nxb Hội Nhà văn 2010. - Đi dọc cánh đồng thơ (quyển hai). Tiểu luận - Phê bình - Chân dung văn học Trịnh Thanh Sơn nxb Hội Nhà văn 2006. - Tạp chí Nhà văn Tạp chí Văn Báo Văn nghệ Báo Văn nghệ trẻ Báo Thanh Niên Tạp chí Người Hà Nội. - Băng đĩa thu của Chương trình phát thanh Văn nghệ Đài TNVN. - Vanvn.net phongdiep.net trannhuong.com hoingovanchuong.com hadinhcan.com lucbat.com vanthoviet.com… - Giấc phì nhiêu tập thơ nxb Văn học 1996. - Đi bên mùa lá rụng tâp thơ nxb Văn học 2000 - Ngang qua cánh đồng tập thơ nxb Hội Nhà văn 2002 2004. - Giả trang tập thơ nxb Hội Nhà văn 2007 - Nguồn tư liệu cá nhân và bè bạn khác



Lê Trường Hưởng

@