Hoàng Quý người hát du ca mùa đông

     Chớm Tết Tân Mão tôi nhận được bài viết rộng và sâu về Hoàng Quý của nhà báo nhạc sĩ Nguyễn Chính. Tôi gửi bài viết của cây bút tài hoa miền Trung lên Blogs của mình  như một cành xuân vui mừng chuyển tới bạn bè yêu quý.HĐC.

 

    Cuộc đời làm báo giúp tôi đi nhiều giúp tôi có được một công việc tôi thú nhận là đôi khi cũng phiền hà đôi khi phiêu lưu nhưng nhìn chung thích hợp với cái máu ba phần liều mạng cũng chừng ấy cẩn thận còn non nửa là phù vân của tôi. Cái sự đi nhiều thường thì khối cái được nhưng chưa hẳn đã hay. Ví thử niềm mong có một thời lượng đích đáng cho ham muốn viết về mấy chân dung thi nhân thời tôi sống những bậc người hiền tôi trọng quý và mến yêu những số phận nhiều khác thường hoặc dị biệt ghi đậm trong đường văn cũng nhiều khác thường hoặc giả chỉ là đám bạn vặt của riêng tôi…

 

   Ấy vậy mà ậm ừ lần lữa mãi. Tôi nào có đại lãn. Tôi tự nhận mình là một kẻ cũng nhiều chăm chỉ một chút bốc đồng không hơn nhưng cũng chả tệ hơn người. Thế mà vào tuổi chạm sáu mươi tôi mới nhận ra hình như tôi mắc nợ món nợ chả ai đòi mà cứ là nợ. Tôi hỏi vợ tôi như thế có hâm không? Vợ tôi thở dài nói thế là trọng người trọng đời. Lại bảo thời gian chẳng chờ ai càng chẳng trải chiếu cho kẻ nhiều mộng mị. Tuổi thơ. Cái thành Hưng xa hút. Nơi ấy tôi sống những ngày đáng sống nếu đời người có những tháng ngày nên được ngợi ca là đáng sống. Nó đáng sống không phải vì tôi được hưởng một tuổi thơ khác thường và hơn người. Nó đáng sống vì quanh quanh cái cổ thành hoang phế có một đám trẻ nhỏ trong đó có tôi sống dễ như rau dợ sắn khoai cố kết như rà ruột mặt mày thường vàng võ thiếu đói áo quần vá đụp vá chằng mà mơ mộng chật căng. Cầm đầu cái lũ trẻ mộng mị là Hoàng Quý cái thằng rất khôi ngô và thuộc loại con nhà… Trong đáy mắt lũ tôi thời ấy thì Hoàng Quý thuộc thế giới khác một thế giới phía hồn nhiên có thể xoay trần súng phốc đánh khăng có thể úp thìa cật đêm trong ổ lá ổ rơm hay kềnh dưới bãi mịn phù sa cuối bến dốc bưng đặc thuyền đinh ngắm sóng sông Thao bất biết ngày mai rồi sẽ thế nào nhưng chợn chợn xa cơ chừng bước chạm cửa nhà lim là hồ nghi là dặt dè ái ngại buông tuột cái phởn phơ thành những cụ măng cố làm nghiêm nghị. Đã đành lũ như tôi toàn hậu duệ nhà chân đất. Mà Hoàng Quý lại con cụ chủ chính hãng sơn ta lẫy lừng ngày nào nhưng giò cẳng có nhiêu khê bít tất giày tây cách biệt diệu vợi gì. Có lẽ sự đáng nể là con út cụ chủ sống bình dị giống với lũ tôi sống dễ dàng tự nhiên như chưa bao giờ khác lại rất biết nhường nhịn biết đồng lõa đặc biệt hay cho chúng tôi mượn sách san sẻ bất luận thứ gì có thể thi thoảng “toáy” những hoa quả bánh trái mẫu thân mang về từ Hà Nội cất trên cái đĩa Giang Tây to phát thèm và lục túi chia tới hào cuối cho cả bọn. Cái đận gia đình tôi lam lũ nhập đoàn người khai hoang làm kinh tế mới hút hoắm Sông Vàng cũng vẫn Hoàng Quý lôi một đám thiếu sinh ngược bộ ngót năm mươi cây số dốc vào cái làng Tề Lễ cắc cớ đò giang nơi tôi gần hóa người rừng diễn hẳn một đêm kịch. Cái vở kịch hú họa tôi sáng tác ở tuổi tập yêu với lớp lang lằng nhằng lời thoại hơi nhiều hiên ngang lý sự éo le dầu mỡ giờ chả dám mang ra làm dáng hoặc làm quà. Thế rồi 16 tuổi Hoàng Quý giấu bạn bè giấu gia đình nhập ngũ tham gia chiến tranh chống Mỹ. Bạn bè ngơ ngác biết bạn ghẻ lạnh những ưu ái sẵn mở cho em trai một cán bộ cấp cao. Những ưu ái khó gọi rẽ rành mà chúng tôi chả dám mơ trong những giấc nhọc nhằn. Tôi có gặp bạn không lâu sau đó ở sư đoàn 304B trong một chiều nhá nhem trên đường hành quân dọc con kênh đào ở phủ Phú Bình Bắc Thái (cũ). Vẫn nét cười nhẹ. Vẫn cái cách móc túi dúi vào tay chúng tôi những gì có thể. Chỉ khác chăng khuôn mặt gan góc nhiều hơn và ánh nhìn dường cô liêu hơn. Nhưng có một thứ vẫn vẫn rất Hoàng Quý đó là sách. Sách nhét phồng trong những túi ôm vòng chiếc ba lô cóc. Sách độn cao khẩu AK vắt lạnh ngang miệng chiếc ba lô nặng phồng và dang dở một cuốn trên tay…Lần gặp ấy phải chờ 30 năm sau tôi mới có một cuộc gặp khác cầm lại bàn tay vĩnh viễn là tri kỉ! Tôi lược vài chi tiết trong rừng chi tiết cách ứng nhân để khảng định một điều rằng sự tử tế làm nên một nhà thơ tử tế có tên là Hoàng Quý - một nhà thơ nếu chưa ghi lại ít nhiều chưa thử xăm soi những tác phẩm mang tinh thần mang hơi thở giữa cái tương quan thời gian được mặc định mong manh chữ tìm dấu họ nghĩ suy tìm thử cả lòng yêu và nỗi người cả sự đóng vón hoặc vỡ òa những chất chứa thì có thể ta còn nợ một món nợ mơ hồ. Nhưng nghĩ cho cùng đó cũng là một cách tự ta còn cố ngoan cố chưa nhập bọn trong cái ruộng thị trường tìm thực lợi rồi lãnh cảm với thời ta. . Hoàng Quý đến với thơ muộn điểm xuất phát phảng phất chút liêu trai! Tháng 7 năm 1996 khi đã tuổi 44 (tính theo tuổi thực) ông mới chào bạn đọc tập thơ thứ nhất - tập Giấc Phì Nhiêu. Cái tập đầu lòng do công của nhà thơ Vân Long trong một dịp ghé Vũng Tàu bắt chợt phát hiện một giọng thơ rất riêng tiếng thơ vạm vỡ mĩ cảm vỡ òa cách nghĩ giọng điệu nhiều mới mẻ trước vệt thi ca đã quá quen mà ông mang bản tập về Hà Nội cho Nhà xuất bản Văn học phục sinh. Tập thơ này Hoàng Quý viết không cưỡng được sau một năm ở chùa đọc kinh nhà Phật như khách sang của sư thầy. Thế thơ nó tìm đến với ông thế nào ông bảo chịu không hiểu được. Rồi trong mươi năm tiếp sau ông in một loạt bốn tập và tới miếu Văn Quốc Tử Giám theo lời mời để đọc non một chương - chương Nhân Dân - trong trường ca Đối Thoại Trắng gây chú ý và tán thưởng đến độ rất nhiều hoa của bạn hữu và của cả người yêu thơ dự khán ùa lên sân thơ tặng người thơ. Một tên tuổi cỡ Phạm Tiến Duật nhiều năm trước đó đọc tập “Ngang qua cánh đồng” và vài mươi khúc trường ca “Đối thoại trắng” bản thảo mới khởi đi còn chưa đầy đủ từng dùng hai từ sừng sững nói với Hà Đình Cẩn và bạn hữu bày tỏ yêu quý trước tiếng thơ bước lên thi đàn sau con sơn tước Trường Sơn nhiều năm dẫu thế không thể tầm thường. Về tuổi tác Hoàng Quý thuộc thế hệ những người lính giữa Mậu Thân. Nhưng với cuộc chiến tranh chống Mỹ họ cùng màu áo họ không cách biệt một lượng thời gian sau trước quá lớn.Trường Sơn đều che chở và gửi vui buồn họ. Cuộc chiến bổng trầm có thể nhặt thưa riêng mỗi họ. Nhưng thơ là những ngiệm không thẳng hàng. Mà nào riêng Phạm Tiến Duật! Một rừng thi nhân lừng danh thời chống Mỹ giờ điềm tĩnh đọc kỹ từng bài từng tập tôi càng trì néo cái ý nghĩ tiếng thơ mang dấu ấn chiến tranh của Hoàng Quý cũng không thẳng hàng. Ở đây không nên nhầm lẫn chiếu gấm chiếu điều hay hay chiếu cói các nhà thơ đang ngự. Ở đây tôi chỉ thử lược giải điều gì in hằn thành nghiệm khác giữa họ. Họ đều là những người lính sẵn sàng quyết tử cho cuộc chiến giải phóng giữ nước. Nghĩa là tình yêu của họ với dân tộc với Tổ quốc thẳng hàng. Nhà báo truyền hình Dương Hùng Phong cho rằng hai câu thơ:Khi chiến tranh đi qua đời cha/ Mỗi sợi tóc một câu chinh phụ (Khi chiền tranh đi qua) của Hoàng Quý là là hai câu ở tầm tổng kết mất mát khôn cùng và cũng dữ dội nhất cho mọi cuộc chiến tranh mà con người vừa là kẻ thủ ác vừa là nạn sinh. Và cũng vì thế Dương Hùng Phong gọi đó là loài thơ trung thực. Về ý nghĩa rằng thơ cũng là một thể thực có tử có sinh thì gọi Thơ là loài cũng đâu có ngoa ngôn! Cố nhà thơ Trần Quốc Thực nói ông ngẩn người khi đọc:Chỉ cánh chúng ta chẳng nghĩ lo nhiều/ Đi vào chiến tranh như đi chợ/ Cứ như không cánh ta chợ rất là buồn (Khi chiến tranh đi qua} cái cách viết về một thể tài ngợi thiêng cộc đầu lằn kị giấu một nụ cười buồn thoáng chút tự trào thôi thúc Thực tìm bằng được người viết những câu thơ ấy trong một mùa đông Hoàng Quý ra Hà Nội. Ở bài “Buổi sáng ra vườn nghe mưa ký ức” lại càng rõ Hoàng Quý viết về đề tài chiến tranh bằng một nghiệm riêng ra cái nghiệm riêng ra rõ một sự quậy cựa hay quây cựa nên chả rào đón khi trò chuyện chả biết tránh né cái ngổn ngang lòng mình không vẽ hình không đơm bóng: Buổi sáng ra vườn nghe mưa ký ức Những câu thơ cay đắng nhất Mang rất nhiều rủi ro Bao đồng đội tôi đã nằm trong mồ Đêm đêm hiện hồn về gõ cửa Đạn găm đầy hình hài Nỗi đau không nói được Bông cúc ta từng hái ở mùa thu Khô xác gần 30 năm trong ba lô cóc cũ Ta cầm lại trên tay như cầm lửa chiến tranh Chả vàng được cho ai - Hoa cúc! Những khuôn mặt vây quanh nói cười huyên thuyên Bia rượu đầy mồm Bia rượu đầy mặt Bia rượu tràn trên đất Đất trổ đầy rong rêu Chả vàng được nữa đâu - Hoa cúc! Buổi sáng ra vườn nghe mưa ký ức Mưa ký ức rơi như một bài hát buồn Mưa ký ức rơi vào bông cúc cũ Mỗi cánh hoa như một linh hồn… Và đây nữa: Khi nhân dân tôi đắp lũy Sông Cầu vua xuống lũy như dân Khi nhân dân tôi họp Hội Diên Hồng vua ngồi giữa nhân dân Những rừng cọc Bạch Đằng Như thế đứng ngàn năm vát nhọn Bao đạo binh hung hăng Bao chiến thuyền dữ tợn Tan chìm và tả tơi… Rồi vàng son lại cao thấp vàng son Vuốt cọp vuốt rồng nào chả nhọn Thương sĩ náu kinh kỳ cửa hẹp Phượng nghê thiêng đội nến sân chầu Nhân dân nổi nênh theo dòng như bọt Nắm gạo trong bồ giật mình vì chuột Hoa mướp vàng Rơm rạ cũng vàng ngây Phên rách tháng ba Rào thưa ngày tám… (Đối thoại trắng) Các thi gia Việt Nam nửa cuối Thế kỷ XX - cái nửa cuối mà cuộc chiến đấu vì chủ quyền độc lập dân tộc trải qua những khốc liệt dường đã vượt ngưỡng chịu đựng những mất mát hy sinh lớn lao cũng vượt cả tới hạn nhưng vinh quang (Tất nhiên!) xứng đáng để kiêu hãnh không hổ thẹn trước tiền nhân - Hầu hết họ là người trong cuộc hoặc chí ít cũng chứng nhân họ kết thành một khối cả phía bỏng rát đối đầu chết chóc cả ở phía dành dụm những hạt gạo cuối cùng bởi thế những trang viết của họ dẫu nặng mỏng khác nhau tùy thuộc tầm tài đều không thể đem ra mặc cả hoặc phủ định bằng những cảm tính bằng cái cách quấy hôi bằng những huyễn hoặc trường phái cũ mới này nọ. Tôi trò chuyện với Hoàng Quý trong những dịp có thể cả bằng emai. Tôi nêu cái cảm giác rằng thơ ông nhiều khác với các nhà thơ cùng thời theo cái cách nói là không thẳng hàng? Ông tỏ ra phấn khích và không khen hoặc chê cái cách ví von ấy. Ông chỉ bảo ông không khác họ ở không gian sống nhưng thế hệ các nhà thơ như Thu Bồn Phạm Tiến Duật Lê Anh Xuân Nguyễn Duy Hữu Thỉnh Lưu Quang Vũ Thanh Thảo Trần Mạnh Hảo và bao nhà thơ lính đều sống chiến đấu viết ngay trong các chiến hào còn khét nồng thuốc súng hoặc sau những lần bom Mỹ gieo chết chóc phía hậu phương. Cả những nhà thơ mặc áo lính không quá cách biệt tuổi tác với ông như Đỗ Trung Lai Nguyễn Đình Chiến Hoàng Nhuận Cầm…đều thành danh và viết được không ít thi phẩm rung động khi họ còn rất trẻ họ cũng sống và bắt đầu viết song trùng năm tháng chiến tranh. Ông rất kính trọng những thi phẩm tươi rói hình hài năm tháng. “Trước mặt là bao nhiêu miền quê/ Sau lưng là bao nhiêu miền quê/ Ngọn lửa ta đốt lên ở giữa/ Nếu mẹ biết ta còn đông đủ/ Đang bập bùng thương nhớ suốt hành lang/ Giọt đèn ấy bớt đi nhiều khuya khoắt/ Chia bình yên cho mỗi con đường” (Hữu Thỉnh). Ông cũng hiểu cả những dằn vặt thẳm sâu trong họ. “Cây cúc đằng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay” (Phạm Tiến Duật) “Cũng có thể chỉ một cơn ác tính/ Sau một cái rùng mình và cứ thế ra đi” (Hữu Thỉnh). Với ông chỉ giản dị là thơ đến muộn. Thơ chỉ tìm ông (hoặc ngược lại) khi ông đã trút bộ quân phục màu rêu khi cuộc chiến ông vốn là vi tế liên hữu thúc nhớ ông day dứt những vọng động. Có thể vì thế mà thơ viết về đề tài chiến tranh của ông giống sự ngoái nhìn sự ngoái nhìn tích nghiệm sự tích nghiệm ít nhiều đã cô vón khi tuổi tráng niên với tươi tắn hồn nhiên nông nổi ruồng bỏ bởi thời gian. Ông đùa như thế thơ ông khéo mà lạc loài: Một ngày ba lô con cóc lên đường Từ tạ tuổi thơ. Từ tạ mẹ Tôi mang trong hành trang ngăn ngắt ra đi Những đọn cói quê người và góc vườn xưa cũ Tôi không vui và tôi không buồn Tôi ra mộ cha lạy người ba lạy Tôi về nhà tôi quỳ lạy mẹ Chỉ mộ anh tôi là không thấy Nó tan vào chiến tranh. (Có một tuổi thơ tôi) Cái chết bây giờ không khét na pan Cái chết không rung từng cơn sốt rét Không bọc trong tăng không vây trong chốt Cái chết không ăn nhầm nấm độc trong rừng Không vắt vẻo thép gai Không! Không! Không!... Không!... Sao vuốt mắt chúng mày mấy lần không được Chúng mày cứ nhìn tao mắt mở trừng trừng Thôi. Không nói nữa Cầu cho vong hồn mấy đứa được yên! (Khi chiến tranh đi qua) Đồng đội tôi giờ thưa thớt cả Đứa cấy ruộng quê Đứa tất tả thị thành Tôi chỉ muốn gào to trước cánh rừng xưa cũ Có ai về mắc võng với tôi không? (Gọi người) Tháng Tư 2008 nhà thơ Hoàng Quý ra Nha Trang. Tận dụng thời gian ông rảnh ở trại viết vợ chồng tôi đón ông tới nhà để có dịp hàn huyên và tất nhiên không thể không nói chuyện văn. Vẫn biết tính bạn chuyện văn chương đụng đến cái ngoài văn bạn thường im lặng. Tuy nhiên nghe tôi nói về mấy bài viết cả trên báo giấy và báo mạng vài năm trở lại đây có những lúc ồn lên một số ý kiến phủ nhận những thi phẩm và đôi khi là tác giả thời chống Mỹ ông lập tức bất bình. Ông bảo thời chiến tranh ông chưa làm thơ chỉ làm lính. Ông nói thẳng giữa cái ác liệt cái chết chóc những “Lửa đèn” “Vùng rừng không dân” “Phan Thiết có anh tôi” “Đường tới thành phố” “Nhớ cơn mưa quê hương” “Tre Việt Nam” “Đò lèn” “Những người đi tới biển” “Gửi các anh” “Tiếng Việt” “Sân ga chiều em đi”…và bao nhiêu thi phẩm uyển chuyển giầu ánh lửa trong cánh rừng thi ca rộng lớn giúp chúng ta tự cân bằng ấm lòng biết đặt vận mệnh Tổ quốc vận mệnh dân tộc trên mọi nhỏ nhoi tầm thường dù mất mát hy sinh và bao nỗi buồn cả có tên lẫn không tên thì tức là thơ khi ấy đã làm cái việc cần làm. Thơ khi ấy không cần những lời lãng nhách của đám hoang tưởng mới viết môt vài đã phách lối thậm chí nhâng nháo lộng ngôn. Ông cho rằng thơ khó lắm có thơ hay thậm khó loại thơ có tuổi trường sinh thì mỗi thế kỷ may ra có được một vài Ông bảo tôi bạn đọc nhiều thử làm một thống kê các thi phẩm từ mọi thời liệu còn bao nhiêu ta nhớ được? Khối tác giả ta chỉ láng máng một cái tên còn tác phẩm thì…Vậy hãy cứ viết như trái tim mách bảo. Cuộc cờ người bàn tiệc đời có anh hay vắng anh được lòng hay bươu đầu mẻ trán cũng chả quá ư trầm trọng: Ở phía ấy là chân trời chưa một lần cầm nắm Cứ đè sóng anh đi như chả nghĩ tới bờ Biển có thể động bây giờ hay lát nữa Thuyền có thể chìm bất chợt. Có hề chi! Không toan tính phận người dày hay mỏng Miễn là bao la miễn là Tự Do Ghì lấy tay chèo. Chân choài thật vững Buồm phồng căng Gió lộng Và…đi!... Đất phía sau lưng chưa hẳn là vướng bận Vũ trụ mênh mang hep một đời người Phóng tầm mắt soi tìm vào biển lớn Anh câu đời mình trong những giấc mơ… (Tự nguyện) Ừ nhỉ! Có khi anh hãy coi Thơ anh đang dụng nó (hay ngược lại) cũng chỉ nên là những giấc câu. Dù Hoàng Quý không nói thì cái ngờ ngợ tôi rằng thơ của ông là những nghiệm không thẳng hàng cũng đã nhiều sáng tỏ… . Tôi hay lẩn thẩn tự hỏi thiếu Thơ loài ta sẽ thế nào? Chắc cũng chả thế nào. “Mua vui cũng được một vài trống canh”. Thi hào Nguyễn Du quá khiêm cung (hay quá kiêu) viết cuối những trang Kiều bất tử đấy thôi. Tôi thì tôi đồ rằng thơ hay cũng cần kiêu kiêu sa. Thơ bậc tuyệt thi hơi kiêu mới đẹp sang mới đẹp. Thơ chứ đâu phải quấy bánh đúc hay nặn kẹo! Thơ vốn không định nghĩa được. “Con chim thì ta biết nó bay con cá thì ta biết nó lội. Còn Thơ là gì thì ta không biết”. Tiên thi sĩ Bùi Giáng từng nói thế nói lúc minh trí chứ không phải lúc bệnh phiêu. Có những lúc lên đồng Chữ rồng rắn nghềnh ngàng như ám bùa ém ngải Câu thơ đói Và câu thơ no Câu thơ kiêu dũng. Câu thơ hào hoa Câu thơ không chối từ phẩm hạnh Thách đố tháng ngày gieo một hạt vui Chả trách móc đêm buồn Chả giận rỗi năm xô tháng dạt Ấm lạnh chả vẽ hình khoe khối Cứ nhẹ như sương hồng hào như khói Đôi lần lanh canh tiếng chuông Chiếc chuông tí hon của bà phù thủy gày khẳng khưu có chiếc mũi lưỡi liềm Làm thích thú và kinh hãi (Đối thoại trắng) Đọc Hoàng Quý như thể Thơ với ông luôn ám chảy trong những phút lên đồng. Mà khéo ông lên đồng thật chứ không ư. Lên đồng không múa may. Lên đồng lúc đóng vón vui buồn. Lên đồng trong ngẫu hững men: Một năm hội Tú Mường chỉ có một lần Một năm anh ơi nhớ mà đến chơi chơi với em với hội! No xôi no thịt thì cứ chơi liền liền đi Trên đầu lắc lư con ma rượu rồi có đứa trốn ra nương hai đứa khéo mà thành một đứa! … Em ơi! Cái bụng anh thèm nói lời yêu mà sao không nhìn thấy em đâu Cái ruột cái gan anh gào hoài hơi trên ống sáo Có thích nhau thì mới đi tìm nhau Sao không thấy mùa này em về chơi hội Em để cho dây đàn anh thiếu nốt vợ nốt chồng Hay là em chê anh? … Ô! Cái Mường mình ơi cái Mường ta ơi Ta yêu Mường vì pố mế sinh ra ta ở đó Pố mế già pố mế về núi Pố mế về núi có nhớ Mường có nhớ đàn con! Ta lớn phổng lớn phang như cây măng vầu đốt mập là vì được làng chăm Ta có cái nghĩ khôn là do sự bảo ban của người già tóc bạc Ô cái Mường của ta! Cái Mường của ta! Tao yêu mày như hòn đá lở rồi vẫn còn lại vết vỡ trong ruột núi! (Ngẫu hứng qua Mường) Đặc sản “Ngẫu hứng qua Mường” của Hoàng Quý gồm 9 khúc 79 câu. Nữ sĩ Nông Thị Ngọc Hòa gọi chín khúc ngẫu hứng là đặc sắc chị ví nó như như “Một tầng mới nữa một chương mới nữa của Đẻ Đất - Đẻ Nước nhưng khái quát nhiều ước lệ sống động trẻ trung và gần với người đọc hôm nay hơn”. Nhà thơ Y Phương dành lời đánh giá thán phục:” Chỉ cần một Ngẫu hứng qua Mường Hoàng Quý xứng đáng đại diện cho cả một cộng đồng tộc người”. Thi phẩm “Ngẫu hứng qua Mường” có tới hai số phân. Những năm từ 1978 đến 1985 Hoàng Quý làm sưu tầm Văn hóa dân gian. Ông tìm được nhiều bài bản đánh trống đồng cổ tưởng đã thất truyền rồi phục dựng thành công trong dịp Giỗ Tổ (Hội Đền Hùng) 1979 truyền xúc động tới hàng triệu người dù có về tưởng niệm các Vua Hùng hay không có điều kiện hành hương Nghĩa Lĩnh. Tháng ngày lang thang trên các bản Mường nhà thơ viết chín khúc ngẫu hứng nhưng chả biết dùng vào việc gì. Khi ấy ông đâu có biết số phận ông rồi sẽ thuộc về thi ca. Thế là khi cao hứng viết tập “Truyện cổ Mường Châu Phong” ông “xé” bài thơ ra “tương” từng đoạn vào mồm các nhân vật trong truyện. Ngay khi đọc các truyện còn đăng lẻ nhà thơ - họa sĩ Hoàng Hữu người nổi danh với bài thơ tình tuyệt vời “Hai nửa vầng trăng” đã dự báo rằng con người tài hoa lãng tử của chín khúc ngẫu hứng sẽ thành một nhà thơ sáng giá một ngày không xa. Xin cảm ơn nhà thơ Vân Long một lần nữa vì nếu không có con mắt xanh và trái tim nồng nhiệt của ông rất có thể “Ngẫu hứng qua Mường” cũng chỉ thăng hoa cho riêng một Hoàng Quý. Nếu như thế “nó” mua vui vài trống canh trong bụi một đời người cũng không chừng. Gần đây nhà thơ trẻ tuổi mới xuất lộ với “Đứa bé” “Tuổi trẻ” Sacalet áo xanh” Lỗi lầm”…và loạt bài ”Hậu hiện đại là cái quái gì” gây sóng nhiều chiều trên thi đàn đương đại vớ được “Ngẫu hứng qua Mường” liền nêu câu hỏi tại sao không đưa bài thơ vào giáo khoa thư. Anh hàm ý rằng giáo khoa thư Việt cần những thi phẩm như “Ngẫu hứng qua Mường”! Đó là một ý kiến công tâm. Nhưng than ôi cái làng văn ta thơ ta và kể cả không ít các ông cỡ viện nào mấy chịu ai vô khối phấp phỏng sợ thiếu mình sợ mình cũ một số lẵng nhẵng trồng cây si với những tân hình thức với lối thơ sắp đặt kiểu Mỹ với lối canh tác lỏi những hậu hiện đại…Ấy là chưa kể…thì một ý kiến Trịnh Sơn chứ đến vạn ý kiến Trịnh Sơn mùi mẽ gì. Hoàng Quý không dụng văn chương để lập danh cũng không dụng văn chương để lấp liếm diện mạo mình cũng như tô trát diện mạo đời. Ông chỉ viết những nỗi niềm ông như trái tim ông bức thúc: Tôi không muốn ép tôi phải làm vui lòng họ Tiệc rươu vắng tôi chưa hẳn bữa tiệc buồn Thôi đừng có phỉnh phờ xưng tụng nữa Với mía đường tôi đỏ mặt thì hơn Tôi không muốn mỗi khi sai thề thốt Những lời thề chả lẽ nói nhơn nhơn Tai no chán những hình dung cửa miệng Tôi không thề nhưng đỏ mặt thì hơn Kẻ ganh ghét rủa rằng tôi đáng ghét Người yêu tôi chăm chú lúc tôi buồn Với sự ghét tôi thường yên giấc Trước niềm yêu chong mắt ở trong hồn Cái mặt tôi chả cần ai chán nó Cũng chả cần tô trát nó nhiều thêm Tôi gieo hạt gặp mùa thất bát Cánh đồng tôi đầy đắng cỏ ưu phiền Có người nhắn rằng tôi sống vụng Phải biết chắn che rào đón ở trên đời Tôi không định ép tôi phải làm vui lòng họ Tôi thế nào như thế thì hơn! (Tôi thế nào như thế thì hơn) Hoàng Quý coi mình là gã có đi ngang qua cánh đồng thi ca ngắm no chán nó rồi ngứa chữ mà dốc chữ ra lục vấn chính mình: Đi suốt cả bon chen gặp cánh đồng mình Đồng sau gặt nước về như nước mắt Còn nặng lòng ư cây trái của ta Hoa vông đỏ một trời lửa đuốc Em gói chờ mong trong hạt vàng thu Ta gọi cánh đồng đồng vang tiếng ếch… Gặp lại ta Gặp lại trăm năm Ta gặp thơ ngây bướm trắng trên đồng Ta gặp cầu ao con chuồn ớt đỏ Mải mê hát mãi những lời dung dăng (Ngang qua cánh đồng) Ông hát những lời dung dăng dung dẻ thôi mà như cái đám thanh đồng mục nhi thời xa lắm. Hát rằng: Giọt mồ hôi mặn cả lốt trâu đi/ Những mùa gieo vãi/ Những chiều chim về/ Cây cau đẫm mỏi dưới vòm sương khuya/ Rặng tre lá trút nói lời đón đưa/ Ta tìm ta lại/ Ta tìm cố tri…(Ngang qua cánh đồng). Khi ruộng vườn làng quê thảo hiền đã mùa chao chát thì tìm được cố tri cũng heo may tăm cá bóng câu. Ngôn ngữ bài thơ dịu dàng quá đẹp quá mà cũng thật buồn! Ta gọi cánh đồng chỉ tiếng ếch đáp trả. Chả chìm trĩu nỗi buồn thì là gì? Và các em những đứa trẻ này rồi sẽ thế nào? Bài hát rất đắm say Ca từ tươi vui ví tuổi hoa em bằng mỹ từ Buổi Sáng Buổi Sáng theo gánh xôi soi nhìn nuốt nước bọt Run run vé số trên tay Buổi Sáng mười một mười hai lồng ngồng chưa biết đọc Mẹ nhặt rác cha cuốc mướn Chiều ba mươi tết mua quần áo “si đa” cho Buổi Sáng còn phải tần ngần Buổi Sáng đánh giày mặt mày đen nhẻm Câu chửi thề thành vốn chữ đầu tiên Buổi Sáng sách đồ thuê và ma cô dẫn gái Buổi Sáng bị quỵt tiền và bợp tai Buổi Sáng bỏ làng theo phố Rửa bát quán ăn quét dọn nhà người… (Hãy gọi tên em là Buổi Sáng) Rất có thể với cách viết thẳng căng như thế sẽ làm ai đó rất không bằng lòng. Nhưng rõ khổ nhỉ thế là nhà thơ anh mũ ni che tai trước cái mảng ám khói ư? Nó có thể gây ngứa (muỗi ấy mà) nhưng dám viết và viết đáng đọc lúc nào chả là sự khó! Tôi cũng là người lính của những năm tháng quyết liệt ngày nào. Tôi từng tin cậy như mọi chúng ta. Tôi vẫn gắng nhủ lòng rằng niềm tin chưa cạn bạc chưa rơi vào cứng tê nhạt khuyết. Tôi cũng không phải không nhìn tỏ ngổn ngang nhiều tháng ngày đầu chiến tranh tất yếu di chứng: “Người cắp thúng đi dọc đường số một/ Người thắt cổ dưới gốc cây bình bát/ Người đi nhờ phóng ảnh để thờ con”.(Hữu Thỉnh) Nhưng có một cái gì đó quá chậm có một cài gì đó đang dần nhạt nhòa hay ngày càng nhiều vô cảm hơn cho không chỉ những đứa trẻ ta vô tình hay cố ý thản nhiên gọn lỏn là “bụi đời”! Xin trích thêm ít câu thơ nữa trong loạt những bài thơ mà Hoàng Quý có lý buồn lây tôi: Và… Nước mãi chảy về phía biển Những dòng sông không ngủ bao giờ Trăng non thế! Trăng tơ non thế Rót đôi bờ lênh loáng cả phù sa Ta đã thề không thèm day dứt Sao đêm nay nước vỗ lên buồn Những bãi phù sa mênh mang diều sáo Bồi hồi mắt chớp lên ta Ta đã gặp những dòng sông câm lặng Vùi trong sâu hút buồn vui Đã ngược thác đã trôi về biển Đi suốt ngày lại hoàng hôn thôi Ta đã gặp những miền phố mộng Những Luy lâu meo mốc rêu phong Đã hội họp những chợ - phiên - thiện - ác Sao lại nhớ về nhớ một dòng sông… (Sông cũ) Và đây: Mỗi ngày Mọi hiện hữu lại bước ra từ hư không Ta cứ tưởng đã hiện hữu không còn lo thất lạc … Mỗi ngày Những hình dung từ đến chào từ biệt Như những chiếc là vàng buồn và đẹp Đã từng xanh muội mê xanh! Mỗi ngày Sự minh triết cô đơn như gió Sự minh triết càng chất chồng càng hoang vu như cỏ Gió mãi loay hoay đi tìm mái nhà mình Cỏ chen vật vã mưu sinh Mỗi ngày Đời người thêm đoạn văn viết dở Những hình hài như có như không Chưa chợp mắt đã hoang đường hiện hữu Đầy đường nhân nghĩa rêu rong… Ta cứ lăm le đóng đinh câu rút Đắp Thánh đường trong cõi Nhân Giá tình yêu vô tư như đất Xoay vòng! (Điệp khúc) . Nhà thơ Nguyễn Đình Chiến trong một bài phê bình văn học nhan đề “Hoàng Quý - một chân dung thi sĩ” nhận định: “Hoàng Quý là một nhà thơ có phẩm chất thi sĩ bẩm sinh. Tài năng ông thể hiện ở chỗ không bao giờ ông chịu viết non tay và ở đâu ông cũng viết được. Địa danh con người thiên nhiên…ùa vào thơ ông chả cần giấy phép. Hiện thực trong thơ ông không thô nhám quặng sạn mà là một hiện thực được chưng cất tinh lọc qua một trường liên tưởng đậm đặc hình tượng và dào dạt tình người”. Nhà thơ tu nghiệp và tốt nghiệp hạng ưu Học viện Gorky còn chỉ ra cái cốt lõi trong thơ Hoàng Quý cái tinh thần nhất quán để tạo nên sức tỏa lan khi bập vào thơ Hoàng Quý một ma lực cám dỗ cả trên và dưới chữ buộc ta dè chừng lươn trạch

NGUYỄN CHÍNH

(Còn tiếp)

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'3535','oj911vf5qg569j1pfvah987do7','0','Guest','0','54.92.164.184','2018-09-18 22:15:36','/a278255/hoang-quy-nguoi-hat-du-ca-mua-dong.html')