Mẹ và ba bà chị dâu

 

           Tôi có ba bà chị dâu. Chị dâu cả về nhà chồng từ năm đầu kháng chiến mới  mười bảy tuổi. Mẹ tôi bảo bấy giờ anh tôi đòi đi theo Việt Minh nên hai nhà cưới vội để anh yên lòng đi kháng chiến vì đã có người chăn sóc các em và bố mẹ. Anh tôi đi biền biệt từ đó không một lời nhắn không một lá thư. Mãi đến lúc làng có phong trào vận động người đi dân công hoả tuyến phục vụ chiến dịch Điện Biên cứ nghĩ lên đó may ra gặp chồng nên chị tôi xung phong vào đoàn người gánh gạo. Mấy tháng kẽo kẹt gồng gánh vật vạ đường rừng lên mặt trận ngong ngóng tìm mà vẫn không gặp được anh nhưng về quê chị lén mua tấm áo lụa nói dối là quà của anh để  mẹ vui....


          Mẹ tôi ngót trăm tuổi mới mất tính ra chị dâu cả ở với mẹ chồng hơn bảy mươi năm. Ngần ấy năm  ở với mẹ chồng đến nỗi càng về già  nết chị tôi cứ y như mẹ nhẫn nhịn chắt bóp thế lam làm không kể sớm tối.  Mấy chục năm về già mẹ tôi hầu như ngày nào cũng hùi hụi ở khu vườn trước cửa nhà. Nào có nhiều nhặn gạo châu củi quế gì cho cam chỉ là vườn tạp mỗi thứ mỗi loài một tí mấy luống đất mùa nào trồng rau ấy vài khóm rau thơm vài cây ớt chỉ thiên dăm cây cà bụi giềng rồi dây trầu hàng cau cây chanh   cây cam cây  mơ cây bưởi... Khu vườn của mẹ giá có  thu hái gom góp cả một mùa cũng chỉ được chừng một quảy đáng giá gì đâu. Vậy mà mẹ tôi chỉ dừng việc bới đất lật cỏ  ngoài vườn  đến tận trước ngày mất có độ hai tháng. Chị dâu cả thế vào chỗ của mẹ y thế vẫn cái dáng suốt ngày cắm cúi như dò tìm từng mầm rễ cây ngọn cỏ trên mặt đất vườn bạc màu  pha cát sỏi. Có lần thấy chị tôi ho xù xụ   còn tham công tiếc việc lê la ngoài vườn cả ngày thằng con cả gắt lên bảo mẹ đừng lẩn thẩn nữa bỏ quách ba cái thứ rau dưa lặt vặt đi thiếu gì ngoài chợ mà phải nhọc xác. Chị tôi không nghe bảo có tiền mua gì chả được nói gì đến quả ớt mớ rau. Nhưng ăn cái rau ở vườn nhà mình vẫn hơn.  Đôi khi tôi về thăm quê khi đi chị dúi cho một bọc rau dưa . Rỗ là hương hoa  vườn nhà  hơn mua ở chợ thật. Quả ớt củ hành quả cà pháo tất cả đều bé tí vặn vẹo nhưng cay hơn thơm hơn ròn hơn những thứ mua ở chợ. Cả mớ rau mùi cũng vậy lá cằn cọc nhưng  chỉ nhấm một chút  đẫ thơm cay chân răng...Nếu thiếu những mảnh vườn nhà  như  vườn của chị tôi thì hương quê đâu còn ?              

        Bà chị dâu thứ hai  là một phụ nữ đẹp và tháo vát.  Anh tôi đang học kỹ thuật quân sự ở nước ngoài chị lại son rỗi nên  nhận  công tác phụ nữ  xã. Thấy con dâu đi họp hành nay huyện mai tỉnh mẹ bảo chị cả bán đôi hoa tai vàng mẹ giữ từ thời con gái cho con dâu mua chiếc xe đạp sắm sửa thêm quần áo mà ra nơi thiên hạ cho đỡ tủi. Thế rồi một lần đi họp trên tỉnh về chị ngồi ở chân giường mẹ lặng lẽ khóc. Mẹ gặng hỏi thế nào chị cũng cắn răng vào môi. Mãi đến gần sáng chị thu xếp quần áo vào tay nải lạy mẹ xin tha thứ vì đẫ chót dại không xứng với chồng với gia phong bên nội nên xin về  nhà ngoại. Chị nói thế nhưng đi một đoạn thì đổi ý rẽ ra đầu núi. Chị dựng túp lều sống ở đó với đứa con trai mãi sau này làng mới biết đó là con của ông Bí thư Đảng uỷ xã. Chị ở vậy nuôi con người cứ đẹp rờ rỡ nhưng nhất quyết không nhận lời với ai đi bước nữa kể cả sau này vợ ông Bí thư  mất vì bệnh trọng. Không còn ở trong nhà nhưng từ ngày anh trai tôi mất vì  bom  ở mặt trận Lào thì chị không kể sớm tối rỗi lúc nào là đoảng sang chăm sóc bố mẹ tôi giúp từ những việc lặt vặt khi vơ bó củi khi nấu nồi cơm khi dọn dẹp quét quáy nhà cửa đến cả những việc nặng như cấy hái ngoài đồng. Hơn năm mươi tuổi  mà chị  vẫn cứ như là nàng dâu  ngày nào sốt sáng làm nốt phận làm dâu không may chị  lỡ dở...

        Chị dâu thứ ba nói như bà cả là "nó" được nhất nhà. Chị hơn anh tôi hai tuổi thành vợ thành chồng do hẹn ước của hai cụ thông gia thở còn chân chánh tổng phó lý trước cách mạng. Chị về làm dâu  đem theo nếp ăn nếp ở của một gia đình coi trọng các lễ giáo cũ kín đáo nhu nhuyễn trên dưới phân minh và yên phận với đạo làm con cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Việc nhà quê chân lấm tay bùn ngày mùa thường ăn xấp ăn ngửa cho xong còn ra đồng lại chăm nom bố mẹ chồng cùng một lũ con  trứng gà trứng vịt nhưng chị bao giờ cũng tươm tất nói đủ nghe cười nửa miệng từng bước sẽ sàng như nhón trêm mười đầu ngón chân. Chị ăn ở với chồng đã ba mặt con nhưng lúc nào cũng ý tứ .Từ đồng về bước qua cổng nhà  là quần không còn vo trên đầu gối áo cài khuy kín cổ.Từ bếp lên nhà chỉ bát canh cũng bưng hai tay đi lối cửa bên rồi ngồi mớm đầu mân xới  cho cả nhà ăn uống nhẩn nha chờ mọi người ăn xong mới lặng lẽ thu dọn....Chị tôi lặng lẽ tươm tất nhẹ nhàng bao nhiêu thì anh tôi lại ngược lại. Anh là cán bộ kỹ thuật nông nghiệp của huyện ăn to nói lớn việc thường ngày là ở ngoài đồng trên nương nhưng chiều thứ bảy về nhà bao giờ cứ phải com-lê cà-vạt đàng hoàng xe máy hon-da bóng loáng. Anh đậm sức da thịt đỏ au mái tóc hoa râm với kính gọng vàng nhìn còn trẻ lắm. Anh càng ngày càng trẻ lại chị thì mỗi tuổi mỗi già so sọm đen đủi. Không đám chê ra miệng nhưng xem trong ý tứ thì anh ngày càng nhạt nhẽo với chị. Đôi khi có khách khứa bạn bè cùng cơ quan đến thăm anh lấy cớ thắp hương cho các cụ nên mời khách sang nhà bác cả làm cơm bên đó cứ như muốn giấu  bà vợ già. Có khi việc hiếu hỉ của họ hàng nội ngoại cả hai vợ chồng phải có mặt nhưng anh lẳng lặng đi xe một mình còn bà vợ già đi đứng thế nào thì tuỳ...Chị tôi biết mình bị chồng chê nhưng nhẫn nhịn chịu đựng không than thở với ai một nhời. Sau cái tết cách đây vài năm anh tôi đi ăn cỗ nhà bạn gái rựợu say không về chị lẳng lặng đem hết những khăn xanh áo trắng nhuộm gụ rồi sau đó vào Hội các vãi  đi chùa và tham gia Ban vận động tu bổ tôn tạo xây dựng lại chùa triền. Chỉ là đi lễ chùa làng chùa xã quanh vùng thôi nhưng vài ba ngày lại thấy chị tôi mặc áo gụ thâm hai thân tóc búi cài châm bạc thắt lưng đeo xà tích tay cầm quạt tay bưng đấu gỗ dựng trầu cau hương hoa  theo các vãi . Càng năng đi chùa năng hoạt động trong Hội các vãi chị tôi càng hoạt bát mạnh bạo không như dạo nào chỉ là cái bóng của chồng con.

            Từ ngày làng có đường đúc bê tông lên xã lại có điện nhiều nhà xoay cửa ra mặt đường cũng mở quán bán nước bán bia rượu may quần áo bán xăng dầu tạp hoá cho thuê váy cưới thêm quán nét quán chiếu băng hình quán ka-ra-ô-kê  và  đẻ thêm cái chợ ở đầu làng nữa thì chị dâu cả  bòn mót ở vườn nhà mỗi thứ rau quả một tí được một mẹt đem ra ngồi  đầu chợ. Ngồi mốc mặt mà chả ai dòm ngó đến. Đã thế mấy bà mấy cô trên phố xã mới tập buôn bán chả biết giàu nghèo thế nào mà ăn nói chỏng lỏn kinh người như cái rác bữu môi chê  mẹt rau của chị. Ra chợ huyện bỏ vài ngàn bạc thì ối rau mơn mởn ớt xanh ớt đỏ to bằng quả cam hơi đâu vơ cái của nợ này về cho rác nhà ! Chị  ngồi ngậm bồ hòn. Khổ thân chị tôi.

       Cũng từ độ làng ên phố chị dâu thứ hai của tôi theo chị ba đi chùa. Hai chị cùng các vãi đi từng nhà vận động quên góp dựng lại chùa Thượng trên nền chùa cũ nhưng nhỏ hơn không bề thế toà ngang dẫy dọc với mái đao cong mềm mại cổ kính như xưa. Chùa chỉ như một ngôi nhà cấp bốn dưới bóng cây bàng già. Chị tôi bảo hôm khởi công các vãi trù tính có lẽ cả tháng mới xong. Ai dè ngay buổi sáng đào móng  bà con trong làng trong xã kéo đến xin làm công đức cứ nườm nượp nên mươi ngày chùa đã dựng xong.

        Đúng dịpchùa khánh thành các bà chị dâu gọi tôi về để nói chuyện gia đình. Tôi không thể ngờ ba bà chị dâu lại có môt bí mật của tôi mà mấy chục năm qua các chị vẫn giữ kín không cho những người đàn ông trong nhà biết..  Ấy là chuyện về bức tượng gỗ nhỏ sơn thiếp đã tróc lở có con chim  sơn xanh đậu ở bên vai trái.  chùa Tây Phương cũng có một bức tượng chim xanh đậu vai như thế này chỉ khác kích thước nhỉnh hơn. Sư thầy trụ trì  chỉ cho tôi đó là tượng Thị Kính nàng tu chính quả được hoá Phật còn con chim xanh nhảy nhót tầm gửi chỗ đậu trên vai Thị Kính kia là chàng  nho sinh Thiện Sĩ  bụng dạ hẹp hòi nên dù đã có hạnh phúc như vàng  cầm  trong tay mà rồi  lại ném đi mất...

          Bưc tượng Thị Kính có trong nhà  bắt đầu từ mẹ chị cả tôi bảo thế.  Bấy giờ vào năm đầu sáu mươi Hợp tác xã cấp thấp quy mô xóm bỗng thăng tiến lên cấp cao quy mô toàn xã để nhanh chóng tập trung nhân lực xây dưng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Khu đồi hoang tiếp giáp ba xóm  được chọn làm trung tâm kinh tế văn hoá của hợp tác xã cao cấp. Chỉ dăm bữa nửa tháng sức lực điền của mấy trăm người có trong tay dao quắm cuốc xẻng đẫ san khu đồi đất pha sỏi  thành hình hài sân kho nền bãi chuồng trại...Đợt vận động phá cũ xây mới được phát động   khẩu hiệu kẻ vẽ bằng vôi  kín các bờ tường nhà dân. Đội quân  xe cút kít ra dời trống dong cờ mở kéo đi phá đình phá đền chùa để lấy gỗ gạch đá đêm về xây trụ sở nhà kho chuồng trại của hợp tác xã. Những cột kèo bằng lim đen nhẫy khiêng ba khiêng tư cả hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng tất tật chất lên xe cút kít về đổ một đống trên khu dất mới san. Cả con chó đá ngồi canh cổng chùa cũng khiêng về cho ngồi giữ cửa kho... 

          Chỉ có bức tượng gỗ nàng Thị Kính trên chùa Thượng là không lọt vào tay đội quân xe cút kít mà không ai biết. Mẹ tôi do ai đó mách bảo nên biết cái ngày hợp tác xã phá chùa để lấy gạch gỗ đẫ lén ra chùa thắp hương từ canh ba. Lúc đoàn quân xe cút kít bánh gỗ nghiến chèo chẹo trên đường làng hướng lên chùa Thượng thì bà đẫ nhanh tay mở tấm khăn vải đen bọc bức tượng gỗ ôm đi. Bấy giờ tống cựu nghinh tân được xem như tiêu chuẩn chính trị và đạo đức của dân làng. Ông giáo Việt   thấy những bộ câu đối sơn son của đình dỡ về ném  ngổn ngang trong đống gỗ lén xin ông bảo vệ được một bộ không may bị Ban lãnh đạo hợp tác xã phát hiện đẫ gửi đơn tố cáo có tư tưởng thủ cựu về trường suýt ông bị  mất dạy. Mẹ tôi sợ liêm luỵ đến các con  đang công tác nên đem tượng về nhà giấu biệt trong hòm để sắn khô kê ở gian nhà bếp.Từ đó nhiều lần tượng chuyển giấu loanh quanh trong nhà. Mãi sau này chuyện cũ đã nhạt mẹ tôi cũng đã già thấy không thể giữ riêng  được nữa mẹ để chị dâu cả thay mẹ cất giữ tượng. Ngày đó nhận cái bọc chăn gói bức tượng chị dâu tôi đã bàn với mẹ chồng hay là đem  trả  tượng cho Văn hoá xã chứ giữ của nhà chùa trong nhà ngại lắm. Mẹ ngồi nhai trên bậu cửa mãi lâu mới nói với chị cứ giữ bao giờ có dịp thì các con thỉnh ngài ra chùa của chùa trả chùa không cho ai hết. Chị dâu tôi lại bảo bây giờ chị mới sực  thấy có lẽ do bà giữ tượng trong nhà  nên mẹ các con dâu nhà này ai cũng như bị ám có cái khổ hao hao nàng Thị Kính. Nghe chị tôi nói thế mẹ chấm nước mắt bảo chị  nói thế là thiển nghĩ. Nhà này cũng chân lấm tay bùn nhưng có được yên lành như nhà thiên hạ đâu. Thời cải cách bị quy nhầm lên thành phần bóc lột nhà cửa ruộng vườn đội tịch thu sau sửa sai được Nhà nước đền bù nhưng gia sản đã như cầm bát nước hất đi rồi có lấy lại cũng chỉ là vớt vát. Vậy mà bây giờ lại nhà ngói cây mít cơ ngơi nào kém cạnh ai trong làng trong xã con cháu lại học hành công tác thành người danh giá cả. Nếu không do Ngài phù hộ độ trì thì ai cho? Chị bảo đàn bà nhà này ai cũng hao hao Thị Kính tôi thấy phải trong nhà không có người đàn bà như Thị Kính thì chồng con no đủ trong ấm ngoài êm  thế nào đươc...         

            Chị cả để pho tượng lên sàn gác sép nơi thường để chăn chiếu mùa hè con cháu cũng chả đứa nào để ý đến. Cho đến mấy năm gần đây chị dâu thứ ba  theo các vãi đi chùa thì chị dâu cả gửi tượng  lại cho em dâu. Bức tượng trao tay từ mẹ  đến các chị dâu bây giờ gần hết một đời người bây giờ tôi mới được nhìn thấy.  Chị tôi bảo bây giờ các vãi đẫ dựng  lại chùa Thượng không được như cũ nhưng cũng có nơi có chốn để dân làng thờ phụng. Chùa không có tượng thì chỉ là gian nhà vắng cho nên mồng một tháng này cả ba chị theo ý của mẹ xin thỉnh tượng về chùa ...