Biên khảo Văn hóa Mông ( 2 )

 

IV. Dân ca.

Tiếng hát mồ côi

Tiếng Mông gọi là gầu tủ giua (gâux tuz n jiôs) gồm tất cả những bài hát tả nỗi khổ đau cơ cực cảu những người bất hạnh có mẹ cha mất sớm. Thường thường không phải chỉ riêng trẻ em mồ côi mới hát mà là cả người lớn người già cũng hát. Tuy nhiên người hát nói chung thuộc lớp trẻ tuổi. Người ta hát trong bất cứ lúc nào ở hoàn cảnh nào dễ làm người khác xúc động mà liên hệ tới cảnh ngộ đáng thương của mình. Hát cho mình nghe hát cho người khác nghe thậm chí có khi hát lên hộ người khác nữa. Nội dung của các bài Tiếng hát mồ côi không những chỉ nêu lên nghịch cảnh và tâm sự đau thương của kẻ mồ côi mà hơn nữa còn có giát rị tố cáo những sự bất công của chế độ xã hội cũ đối với những kẻ thân cô thế cô mất cha mất mẹ....


              
Hoa gianh nở hoa gianh nở đầy đồi

               Mồ côi có theo người làm hết sức

               Khi ăn cũng không được cùng ăn;

               Hoa gianh nở hoa gianh nở khắp  núi

               Mồ côi có theo người làm tận lực

               Khi mặc cũng không được cùng mặc...

Hoặc:

               Sớm ngày người gọi nhau cơm sáng

               Mồ côi không cơm sáng

               Mồ côi đã đầu ruộng cuối vườn

               Ra tay chín lượt mười sau lần cày miết;

               Chiều hôm người kêu nhau cơm chiều

               Mồ côi không cơm chiều

               Mồ côi còn đầu vườn cuối ruộng

               Ra tay chín lần mười sáu lượt cày hoài...

rồi thì:

               Người a nghĩ tốt người ta múc cho mồ côi một thìa nuôi miệng

               Người ta không nghĩ tốt người ta cứ tên mồ côi mà chửi;

               Người ta nghĩ tốt người ta múc cho mồ côi một thìa nuôi thân

               Người ta không nghĩ tốt người ta cứ tên mồ côi mà mắng!

Cuối cùng mồ côi chỉ còn biết than:

               Trời hỡi! Sao có người cơ khổ như ta

               Thân mồ côi chẳng khác gì thân trâu cày đứt dây khiếu

               Xổng ra đi là hết con đường khóc lóc;

               Trời ơi! Sao có người cực nhục như ta

               Kiếp mồ côi chẳng khác chi thân trâu cày đứt dây sẹo

               Thoát ra đi là trọn con đường kêu than!

Nghe Tiếng hát mồ côi người ta cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của người hát đồng thời cũng rất dễ nổi lòng căm phẫn đối với những người tàn ác vô lương tâm đầy đoạn những ai bất hạnh không còn cha còn mẹ để nương tựa cậy nhờ.

Điều đáng chú ý là bên giá trị tố cáo Tiếng hát mồ côi cũng nói lên được phần nào tinh thần tự do tự lực cánh sinh của những kẻ mồ côi. ở một số bài nỗi thống khổ uất ức đã biến thành một ý thức phản kháng quyết liệt. Rất tiếc những bài loại này chưa sưu tầm được nhiều thành thử khi đọc người ta chỉ thường thấy mồ côi hay nghĩ đến cái chết để tự giải thoát. Đó là một nhược điểm về nội dung tư tưởng của loại dân ca này.

 Tiếng hát làm dâu

Tiếng hát làm dâu tiếng Mông gọi là gầu ua nhéng (gâux uô nhangs) diẽn tả mọi nỗi khổ đau uất ức của người phụ nữ trong xã hội cũ.

Xã hội dân tộc Mông ngày xưa cũng đầy rẫy những bất công địa vị người phụ nữ rất thấp kém. Những nạn tảo hôn cưỡng hôn những cảnh làm dâu bị đầy đoạ như trâu ngựa. Suốt đời người phụ nữ bị buộc chết vào nhà chồng. Người phụ nữ  vô cùng đau khổ hầu như không còn quyền sống. Tình cảm họ bị chà đạp thể xác bị dập vùi họ chỉ còn biết dùng lời hát mà kể lể thở than cho cảnh ngộ đau thương oan trái của mình. Họ cũng dùng những lời hát để nguyền rủa cái chế độ bất công khe khắt của xã hội cũ. Tiếng hát làm dâu thể hiện sự đấu tranh chống tập tục và lễ giáo phong kiến của các nàng dâu Mèo trong xã hội cũ.

Họ hát một mình hoặc than lẫn cho nhau nghe để tỏ mối cảm thông. Nhìn chung Tiếng hát làm dâu phản ánh khá chân thực cái cảnh làm dâu dưới chế độ thực dân phong kiến lạc hậu và tàn ác. Trong loại Tiếng hát làm dâu có một số bài khá dài mang tính chất gần như truyện thơ vạch ra được cái thực trạng đen tối vạch ra được cái nghịch cảnh cái số phận khổ đau khi đi làm dâu của người phụ nữ Mông xưa kia.

Cũng như những kẻ mồ côi bị áp bức chịu nhiều đau khổ các "nàng dâu" thường nghĩ đến chuyện tự vẫn bằng một nắm lá độc hoặc bằng một sợi dây rừng; đó là mặt tiêu cực của con người trong xã hội cũ. Tuy nhiên không phải tất cả đều như thế. Trong nhiều bài đọc kỹ ta cũng thấy ý thức phản kháng le lói bật lên thấy được lòng tin tưởng ở chân lý thấy được các nguyện vọng "táo tợn" muốn thoát ra khỏi mọi quan hệ xã hội hà khắc đương thời của các phụ nữ Mèo. Cũng từ Tiếng hát làm dâu người ta còn thấy tâm lý phụ nữ Mèo vốn ưa sự chung thuỷ và khao khát được xây dựng gia đình với người mình lựa chọn mình yêu.

 Tiếng hát tình yêu

Giống như dân ca cảu nhiều dân tộc khác Tiếng hát tình yêu tiếng Mông gọi là gầu plềnh (gâux plênhl) chính là loại tình ca của nam nữ loại bài hát phong phú và đa dạng nhất của người Mông.

Đi sâu vào loại hát này ta có thể phân biệt:

a. Các bài hát của con trai hát với con gái

b. Các bài hát của con gái hát với con trai

c. Các bài hát của nam giới hát với đàn bà (có chồng hoặc đã bỏ chồng)

đ. Các bài hát với đàn bà goá

e. Các bài hát với đàn ông goá.

v.v...

Ngoài ra người ta còn tuỳ theo tính chất của bài hát mà đặt tên. Cũng trong loại gầu plềnh này còn có các bài hát đố bài khèn hát mỉa hát hội v.v... và một số bài mang tính chất truyện kể bằng thơ có cốt chuyện có tình tiết có nhân vật - mặc dù đang còn ở mức độ sơ lược giản đơn. Về căn bản các bài hát này đều mang tính chất trữ tình. Phân biệt như trên chỉ là để xếp đặt có hệ thống chứ thực ra trong thực tế một cuộc hát người hát không nhất thiết phải hát thực đúng tính chất từng đối tượng.

Hát các bài thuộc Tiếng hát tình yêu thường thấy có mấy trường hợp:

a) Phổ biến nhất là thanh niên nam nữ hát với nhau trong bất cứ trường hợp nào thuận lợi. Đi làm nương làm ruộng vào rừng lấy củi lấy nấm đi chơi phố chơi chợ những buổi rỗi công rỗi việc v.v... gặp nhau là họ hát vui với nhau. Không những hát để giải trí thử tài nhau mà chính trong những trường hợp hát như thế này các chàng trai cô gái được một dịp "tìm hiểu" lẫn nhau và không ít những cuộc tình duyên đẹp đẽ đã nảy sinh từ những dịp hát xướng thú vị này.

b) Người bản này sang hát ở bản khác. Đó là những trường hợp "có khách lạ" tới bản trai gái trong bản hoặc tới hát với khách để "tìm hiểu" khách hoặc tới hát để "tiếp" khách. Gặp những trường hợp này thường thường người ta rủ theo dăm ba người bạn và cuộc hát có thể kéo rất dài. Trong khi hát các ông bà già hoặc thanh niên nam nữ khác có thể tới dự nghe và nhắc nhở các bài cho người hát.

c) Trước kia tập quán người Mông ăn tết kéo dài dịp tết thường mở hội gầu tào (grâuk taox). Người Hán người Sã và một số đồng bào Mông ở vùng biên giới Việt - Trung gọi theo tiếng Quan hảo là sải sán(1).

Hội gầu tào được tổ chức trên một bãi đất tương đối bằng phẳng giữa trồng một cây bương hoặc cây tre giống như cây nêu ở miền xuôi trên ngọn treo miếng lụa hoặc nhiễu đỏ và một lọ nhỏ trong đựng rượu. Hội thường mở trong bốn năm ngày liền thu hút được rất nhiều trẻ già trai gái. Ngoài những trò chơi dân tộc như đánh pa-pao đánh võ đua ngựa bắn súng bắn nỏ còn có múa khèn thổi sáo chọi chim chọi gà v.v... trai gái thường hát xướng với nhau. Họ hát với nhau hoặc trực tiếp hát đối đáp bằng miệng hoặc dùng hai ống nứa bịt bong bóng nối bằng một sợi chỉ dài đứng cách xa nhau mà hát và nghe trong ống (cách hát này gọi là hát ống). Người hát đông người dự xem và nghe hát cũng đông. Các cuộc hát này gọi là hát hội (chù gâu tào = txux grâuk taox).

d) Từng đôi nam nữ tình tự riêng với nhau. Điều rất đáng chú ý là thanh niên nam nữ Mông khi tình tự với nhau họ ít thích hát lên bằng lời bằng miệng. Họ dùng khèn kèn lá sáo đàn môi thổi thành nhạc điệu người nghe hiểu được  ngay nội dung bài hát mà "đối tượng" của mình đang diễn tả. Lối tự tình qua nhạc cụ này rất phổ biến thanh niên nam nữ Mông nói chung là có một biệt tài một năng khiếu thẩm nhạc riêng - nghe nhạc mà hiểu hổi mọi tình ý của người chơi nhạc - chẳng khác gì các nhạc sĩ chuyên nghiệp nghe "nhạc thuần tuý" vậy.

 Như tên gọi nội dung chủ yếu của Tiếng hát tình yêu là tình yêu cho nên bài hát rất phong phú. Từ lúc bắt đầu làm quen tìm hiểu ướm lòng đến chỗ gắn bó xe kết với biết bao hy vọng tươi đẹp tất cả mọi ước mơ sung sướng nhất được diễn tả bằng bài hát. Rồi thì những nghịch cảnh những éo le oan trái  trong tình yêu mang đến cho con người đau thương u uất giận hờn thù oán... tất cả những khía cạnh tình cảm ấy cũng được biểu hiện miêu tả qua các bài hát. Thật là muôn hình muôn vẻ khó có thể sưu tầm hết các bài hát này. ở trên đây phân biệt thành loại thành thể chẳng qua chỉ là để sắp xếp cho có hệ thống một phần nào. Riêng loại Tiếng hát tình yêu  này việc phân loại càng khó khăn bởi vì tư tưởng chủ đề nội dung đề tài và hình thức biểu hiện nhiều khi xen kẽ lẫn lộn...

Giá trị chủ yếu của Tiếng hát tình yêu là ở chỗ các bài hát phản ánh được trung thực những tình cảm những ước mơ lành mạnh của nhân dân lao động Mông: tình yêu chân chính lòng chung thuỷ hạnh phúc gia đình... Đó là những điều người ta thiết tha mong mỏi được nói lên nhiều nhất. Bên những yếu tố chính ấy nội dung nhiều bài cũng hướng vào phê phán các mặt tiêu cực của con người trong tình yêu nhất là vấn đề phụ bạc lẫn nhau. Thái độ phê phán có nhiều vẻ: hoặc đau xót cay chua mà kết án hoặc mỉa mai chì chiết hoặc phẫn nộ đả kích . Từ các bài Tiếng hát tình yêu ta có thể nhận thức được khá đầy đủ về nhiều mặt đời sống xã hội đời sống tình cảm của người Mông càng thấy họ là những người giàu tình cảm rất coi trọng tín nghĩa. Trong dân ca Mông loại này là phần chủ yếu có nhiều giá trị tích cực nhất.

 Tiếng hát cưới xin

Đây là những bài hát thường chỉ do nam giới hát nhân dịp đám cưới. Người Mông gọi chung là gầu xống (gâux yôngz). Loại hát này có thể chia ra:

a) Hát nghi thức

Tục lệ cũ của người Mông khi cưới vợ nhà trai trước tiên phải cử người đến "đánh tiếng" - người này phải là người còn đủ đôi - sau khi "đánh tiếng" đạt kết quả bấy giờ mới chính thức cử hai ông mối tới nhà gái. Nhà gái cũng phải cử hai ông mối ra tiếp. Các ông mối "thảo luận" với nhau về mọi nghi thức điều khoản cưới xin (tất nhiên là phải dựa trên ý kiến của hai gia đình) với tính cách là các đại diện. Mỗi đám cưới thường trải qua ba lễ: lễ hỏi lễ trả lễ cưới (đón dâu).

Hai ông mối của nhà trai ngay từ bữa rượu tiễn chân từ nhà trai ra đi hỏi vợ đã phải hát những bài có tính chất nghi thức của đám cưới rồi (hát các bài nói về việc lấy vợ lấy chồng hứa hẹn làm trọn nhiệm vụ với gia đình nhà trai...). Họ mang lễ hỏi tới nhà gái (nhà gái đã cử sẵn hai ông mối tiếp). Từ việc xin nhà gái mở cửa nói rõ ý định của mình xin chỗ treo ô   xin nước rửa mặt xin chỗ ăn ngủ v.v... tất cả mọi việc các ông mối nhà trai đều phải hát và các ông mối nhà gái hát đáp lại. Hôm sau mời họ hàng nhà gái tới ông mối nhà trai bàn việc chính thức nhà gái thách cưới (dùng "que thách" để nói rõ số tiền và lễ vật cheo cưới). Đôi bên điều đình thoả thuận với nhau ra sao nhất nhất các ông mối phải dùng bài hát mà trao đổi ý kiến với nhau. Sau lễ hỏi hai ông mối nhà trai trở về báo lại cho nhà trai biết tình hình để lo liệu lễ trảlễ cưới. Trong lễ trả các ông mối dẫn chú rể mang lễ vật sang nhà gái. Trao nhận lễ vật từng phần từng thứ bốn ông mối vẫn phải dùng bài hát "nói" với nhau. Xong xuôi mọi việc mới quyết định ngày giờ đón dâu. Trong lễ đón dâu (lễ cưới) các ông mối vẫn giữ vai trò chủ chốt và "nói" bằng bài hát. Tóm lại tất cả các bài áhình thức các ông mối hát trong các lễ nói trên của một đám cưới gộp lại thành một phần của gầu xống. Các bài này mang tính chất hát nghi thức có quy tắc có nhạc điệu tương đối ổn định. Vì vậy tuy là dân ca nhưng tính chất dân gian của nó có phần bị hạn chế.

b) Hát vui chơi trong đám cưới

Trong lễ cưới người dự tiệc rượu thường ca hát với nhau. Người ta hát những bài vui chúc mừng cô dâu chú rể mời nhau uống rượu kể chuyện vui cười hát đố hát giải hát trêu chọc đùa cợt lẫn nhau. Các bài nội dung đều xoay quanh việc cưới xin vui mừng hợp thành một phần nữa của gầu xống.

Trong tiệc rượu cưới không phải người ta chỉ hát các bài thuộc loại gầu xống. Đây là một dịp được gặp gỡ người ta không bỏ lỡ. Vì vậy trong đám cưới ngoài các bài  gầu xống người ta còn hát các loại khác. Cần than thân mồ côi làm dâu goá bụa người ta hát Tiếng hát mồ côi Tiếng hát làm dâu trai gái tìm hiểu yêu đương nhau thì cùng nhau hát Tiếng hát tình yêu. Có thể nói chỗ nào có việc vui mừng có tiệc rượu là ở đấy có hát có khi chỉ có hai bên nam giới ngồi uống rượu với nhau họ cũng kéo một cuộc hát rất dài. Hát là một nhu cầu trong đời sống tinh thần của người Mông.

 Tiếng hát cúng ma

Tiếng hát cúng ma tiếng Mông gọi là gầu thờ (gâux tuôs) gồm một loại các bài hát đặc biệt chỉ được dùng trong đám ma cúng ma. Loại hát này không phổ biến trong nhân dân mà khi về già cần thiết thì người ta mới học. Đặc biệt phụ nữ - trừ những người làm nghề mê tín mo then - không học hát loại này. Tuy nhiên loại hát này ít nhiều vẫn mang tính chất dân gian do đó có thể coi là một loại dân ca nên giới thiệu.

Tiếng hát cúng ma có thể chia ra:

a)Bài hát Chỉ đường

Khi nhà có người chết người nhà phải đi mời ông trưởng họ (người Mông gọi là chí dề - txir zêx) và mời ông mo (dở mổ - zơưv môv) tới trước. Ông mo hát bài khúa kê để chỉ đường cho người chết về với tổ tiên. Xong việc đó ông mo có thể về hoặc ở lại làm chí xáy cho tang chủ thì tuỳ ý ông mo và nhà chủ.

b) Các bài hát làm đám cúng ma

Tiếng Mông gọi chung là chí xáy (txir xeir). Khi bắt đầu làm đám tang gia mời hai người làm chí xáy một người trong họ một người ngoài họ (có thể mời ngay ông mo làm chí xáy).  Người làm chí xáy phải biết hát những bài hát chính cúng người chết có nhiệm vụ tổ chức đám ma thu nhận đồ phúng viếng. Ngoài ra phải mời hai người chuyên thổi khèn thổi những bài khèn cúng thay tiếng khóc cho tang chủ. Tất cả các bài hát này được gọi chung là chí xáy.

Chí xáy gồm một số bài chính

- Bài Đại đám (tiếng Mông gọi là nả đềnh - nav ntênhl) dùng cúng cho đám ma to.

- Bài Tiểu đám (tiếng Mông gọi là Mi đềnh - mir ntênhl) dùng cúng cho đám ma nhỏ.

Tuỳ theo đám to hay nhỏ ông chí xáy sẽ dùng một trong hai bài này mà cúng cho người chết vào hôm trước ngày hạ huyệt một ngày.

- Bài Giao ân huệ (Tiếng Mông gọi là Chéo xáng đù - Chaoz yangr ntux) bài này vừa hát vừa mời nhau uống rượu để thức đêm ở nhà đám cho qua thì giờ.

Các bài cúng khác có những bài kể lại công ơn của mẹ cha nuôi nấng con cháu từ nhỏ đến lớn kể lại nguồn gốc trời đất tổ tiên dạy bảo con cháu "làm ăn làm mặc..." và các bài khèn khóc người chết. Rất nhiều bài khác nhau: khóc cha khóc mẹ khóc con v.v... Trong khi làm đám có người tới phúng viếng người thổi khèn thổi một bài khóc và khi thổi xong cả nhà đám lại khóc oà lên.

Nhìn chung loại gầu tuở có tính chất lễ ca ít nhiều mang những yếu tố mê tín lạc hậu. Tuy nhiên những yếu tố này không phải là chủ đạo. Từ nội dung các bài gầu tuở cũng như của nhiều bài thuộc loại gầu xống nhân sinh quan thế giới quan của người Mông xưa được bộc lộ khá chân thực. Nhiều bài có tính chất giáo huấn luân lý tiến bộ và ở đấy người ta cũng tìm thấy một phần nào những phong tục tập quán cách giải thích lịch sử giải thích về nguồn gốc loài người về một số hiện tượng thiên nhiên của dân tộc Mông. Phần giá trị nhân đạo thực tế đã là sức sống bên trong làm cho các bài hát này tồn tại nên về mặt văn học các bài hát đó vẫn có chỗ đứng của nó.

Các bài hát mo then này xưa nay người ta vẫn học truyền khẩu. Đáng chú ý là bài Khúa kê (chỉ đường) bài này đặc biệt kiêng kỵ không được hát ở trong nhà người dạy người học phải kéo nhau ra rừng lên núi mà truỳen lại cho nhau. Ngoài ra mọi bài khác đều có thể truyền dạy cho nhau ở trong nhà được.

*

*    *

Ngoài  năm loại hát chính vừa kể trên người Mông còn nhiều bài hát khác. Đó là những bài hát tự thán kể lể những nỗi khổ nói chung những bài hát kể chuyện về các nhân vật xa xưa trong lịch sử (kiểu như lối vè kể của miền xuôi) những bài phản ảnh phong tục tập quán (phong trào) v.v... Trường hợp sử dụng các bài này rất linh động do đó không thể xếp vào loại nào nhất định được. Tuy nhiên việc phân loại dân ca Mông như trên chưa thể coi là một cách phân loại khoa học.

Như đã trình bày khèn kèn lá đàn môi sáo... là những nhạc cụ thông dụng của người Mông. Đặc biệt là kèn lá đàn môi và khèn nhất là khèn người ta giãi bày tâm sự với nhau bằng khèn than thân bằng khèn cúng lễ bằng khèn nghĩa là diễn tả mọi tâm tư tình cảm suy nghĩ của mình ra bằng khèn. Nghe khèn có thể hiểu được những điều người thổi khèn muốn nói muốn hát. Khèn cũng như kèn lá và đàn môi là những nhạc cụ gắn liền với dân ca do đó có thể nói nội dung của khèn kèn lá đàn môi rất nhiều bài là dân ca hoặc ngược lại dân ca được biểu hiện qua hình thức các nhạc điệu ấy. Vậy nên nếu như sau đây nghiên cứu về dân ca Mông thì cần chú ý tới tất cả những nhạc cụ thông dụng dùng để thể hiện nội đung của nền dân ca ấy nữa.

Về phương diện nghệ thuật của dân ca Mông tôi nhận xét thấy vài điểm đặc biệt như sau:

a) Phương pháp kết cấu phương pháp miêu tả thường dùng là phương pháp kết cấu trùng lặp một ý hoặc một sự vật thường diễn tả bằng hai vế mỗi vế gồm 2 3 hoặc 4 câu dài ngắn không chừng. Hai vế nhấn mạnh lẫn cho nhau bằng cách chỉ đổi khác một vài từ cùng nghĩa khác âm. Đôi khi người ta dùng đến 2 đoạn đề phô diễn một ý một sự vật. Ví dụ:

               Mặt trời đã xế bên núi

               Đôi ta như chim khướu lạc đàn;

               Mặt trời đã xế bên đèo

               Đôi ta như chim mi lạc bạn.

               ...

               Bàn ba ngày không được

               Mẹ tính mưu đi lấy rau

               Gọi anh em họ xuân về đủ

               Bàn ba ngày không thành

               Mẹ kiếm kế đi hái củi

               Gọi anh em họ xuân về đầy.

....

Người ta có cha có mẹ

Khi ra ngoài quần áo bảnh bao đi có đôi;

Mồ côi không cha không mẹ

Khi ra ngoài quần áo tả tơi đi lẻ loi.

Người ta có mẹ có cha

Khi ra ngoài quần lành áo đẹp đi lũ lượt;

Mồ côi không mẹ không cha

Khi ra ngoài áo rách quần xấu đi lủi thủi.

Đi đôi với phương pháp ấy là phương pháp so duy đối vị. Bằng các thủ pháp nghệ thuật này ý câu hát câu thơ được nhấn bật lên:

               Người ta có cha

               Người có cái cuốc làm nương thu được vụ mùa đầy gác

               Người có cái cày làm ruộng thu được vụ lúa đầy nhà;

               Ta không có cha

               Ta không có cái cày làm ruộng thu được vụ lúa đầy nhà

               Ta không có cái cuốc làm nương thu được vụ mùa đầy gác.

b) Hình tượng nghệ thuật ngôn ngữ trong dân ca Mông thường rất gần gụi với đời sống hàng ngày không cầu kỳ bóng bẩy nhưng trong các bài dân ca cách dùng nhiều hoán dụ chứng tỏ tâm hồn người Mông rất tế nhị tinh vi. Một ví dụ để nói lên trạng thái "không bao giờ hết không bao giờ thành".

               Câu hát sắp hết câu hát lại không hết

               Hết như nước suối giặt xà cạp qua nước suối giặt giày

               Buồn lòng mình ta gỡ không nổi

               Buồn lòng ta mình gỡ không xong...

c) Khác với thơ ca dân tộc Kinh thơ ca Mông không gò ép trong phạm vi câu cú; tiết độ câu thơ không có hạn nhất định. Mỗi đoạn hát thường gồm hai câu trong mỗi câu chỉ cần chữ cuối của câu cuối bắt vần với vần gieo ở chữ cuối câu thứ nhất thế là được. Do đó ta thường thấy mỗi đoạn hát chỉ có hai vần chính. Ví dụ:

               Đề đư tâu đề đư

               áng đư chi tâu áng tếnh

               Cào mồng tâu cào mồng

               Cú mồng chi tâu cú đe tào trống hấu pê sếnh

               Đề đư tâu đề đư                  

               ánh đư chi tâu áng trùa

               Cào mồng tâu cào mồng

               Cú mồng chi tâu cú đê tào trống hấu pê cùa.

Dịch nghĩa

               Nước chảy được nước chảy

               Đất không chảy được đất đứng

               Anh đi được anh đi

               Em không đi được em lên núi đồi than van;

               Nước chảy được nước chảy

               Đất không chảy được đất đứng

               Anh đi được anh đi

               Em không đi được em lên núi đồi khóc lóc.

Vì vậy ta thấy có những bài vần buông cách nhau rất xa như:

               Sáng đù mế nồng gúa chù dù

               Lù mang chù gúa dúa táng

               Deng táng đù đư chi pủ kế chơ

               Chơ gâu trâu súa đỉ đầu vâu giề là giáng

               áng lùa lu đi đúa mế gúa chù lấu

               Mao nó ứ áo lềnh xú pê ki càng đù xáng pù kế

               Cú gu lú trù giao tráo chế

               Gầu sinh chi máo chi sua mùa chê

               Gầu sinh máo súa múa cú bê của nhù nheng tùa đúa đấu.

...

Sang đù mế nồng gúa chù dù

                        Lù nang chù gúa đúa táng

                        Đeng táng đù đư chi pủ kế chơ

                        Chơ gâu trâu đỉ đầu vâu giề là giáng

                        áng lùa lu đi đúa mế gúa chù tơ

                        Mao nó ứ ào lềnh xú pê ki càng đù pủ cáng

                        Cú gu lú trù giao trào káng

                        Gầu sinh chi máo chi sua mùa chê

 &nbs

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'3535','6mp8q6l9dl6olch40ate8ggo06','0','Guest','0','54.92.164.184','2018-09-18 22:53:43','/a105955/bien-khao-van-hoa-mong-2.html')