Biên khảo văn hóa Mông ( 1 )

 

 Tôi vừa cùng một vài nhà văn đi điền dã vùng Cực Bắc được qua nhiều đêm bên bếp lửa người Mông.Những người già kể rất nhiều câu chuyện vừa rực rỡ vừa bi tráng về dân tộc sống trên  đỉnh núi. Quá trình lịch sử điều kiện tự nhiên nơi cư trú là những tiền đề của truyền thống văn hoá đặc sắc. Những trang biên khảo tôi giới thiệu dưới đây chỉ là một phần nhỏ  mong muốn bạn tiếp cận thế giới tinh thần người Mông.....
 


         I. Khái quát

Dân tộc Mông chiếm tỉ lệ 1% dân số cả nước sống rải rác trong các tỉnh dọc biên giới Việt Trung và Việt Lào từ tỉnh Lạng Sơn đến tỉnh Nghệ An. Đồng bào sốn tập trung ở các tỉnh Hà Giang Lào Cai Lai Châu Sơn La v.v... Những năm gần đây có một số người Mông di cư vào làm ăn sinh sống ở các tỉnh thuộc Tây Nguyên.

Người Trung Quốc gọi người Mông là Miêu Tử hay Miêu Dân. Trong Kinh Thi của Khổng Tử (551-479) có chép đến Tam Miêu và giải thích rằng đo người ta căn cứ vào màu sắc quần áo mà gọi gồm: Hồng Miêu Bạch Miêu Thanh Miêu tức là Miêu Đỏ Miêu Trắng và Miêu Xanh. Thời gian đó có một bộ tộc Mông do tù trưởng Hữu Miêu chỉ huy nên người ta còn gọi tất cả người Miêu là Hữu Miêu.

Từ nguồn tư liệu thư tịch Trung Quốc trên một số người cho rằng Miêu Tử tồn tại trong thời kỳ Hoàng Đế (giữa thiên niên kỷ thứ II TCN) là tổ tiên của người Mông hiện nay sống ở Trung Quốc và Việt Nam. Song trong thư tịch và cả trong truyền thuyết danh từ Miêu bị vắng đi trong thời gian dài hơn 2.000 năm (từ nhà Hạ 2205-1760 TCN đến nhà Đường 618-907 sau CN).

Các tác giả Ngô Trạch Lâm và Trần Quốc Quân có quan điểm khác. Trong tác phẩm của mình: "Nghiên cứu về xã hội Miêu Di ở tỉnh Quý Châu - Trung Quốc" các tác giả cho rằng tộc Miêu ngày nay không phải là Tam Miêu ngày xưa. Tam Miêu ngày xưa là tên nước không phải là tên dân tộc. Vậy tộc Miêu ngày nay có quan hệ đến tam Miêu ngày xưa hay không? Vấn đề vẫn chưa được giải quyết.

Người Mông Việt Nam là một trong những cư dân sinh sống sớm nhất lâu nhất ở vùng núi cao của miền Bắc Việt Nam. Người Mông tự gọi tên dân tộc mình bằng tiếng Mông là người Mông. Người Mông ở Trung Quốc Thái Lan Lào Việt Nam... đều thống nhất một tiếng như vậy.

 Theo các nhà Nhân chủng học việc hình thành nhân chủng gắn liền với môi trường địa lý tự nhiên xung quanh và về thời gian là vao thời đại đá cũ hậu kỳ và đá mới tức là nhân chủng được hình thành trong một thời gian rất dài.

ở Việt Nam cho tới nay chưa có những tài liệu nghiên cứu về nhân chủng người Mông song chúng ta biết rằng người Mông ở Việt Nam và người Mông ở Trung Quốc là cùng nguồn gốc.

Tên Hmông đọc gần như Mông hơi qua mũi nhiều hơn là tên tự gọi. Các dân tộc khác nhau gọi người Mông với những tên khác nhau. Người Trung Quốc gọi người Mông là Miêu phát âm gần như là Mèo. Người Kinh trước đây gọi người Mông là Mèo người khu Bốn gọi theo âm địa phương là Mẹo. Gần đây có người gọi Hơ Mông. Các tên gọi Miêu Mèo Mẹo Hơ Mông đều không đúng không được đồng bào chấp nhận.

Theo tên tự gọi người Mông có những nhóm chính sau đây:

Mống đấu - Mông trắng

Mống lềnh (mống sí) - Mông hoa (Mông đỏ)

Mống đú - Mông đen

Mống súa - Mông Hán

Các tên tự gọi này chủ yếu dựa vào sự khác nhau của y phục và tiếng nói để phân biệt.

II. Đời sống văn hoá

1)Nhà ở của dân tộc Mông

Nhà ở là sản phẩm văn hoá của dân tộc. Dân tộc nào cũng làm nhà để ở nhưng các dân tộc khác nhau làm nhà ở khác nhau. ở vùng bờ biển Bắc Cực các dân tộc Trút Cô ri ắc Eskimo sống trong các nhà tuyết. Người Mông Cổ người Tây Tạng người Cô Dắc sống trong các lều lợp bằng da cừu để dễ di chuyển theo đàn gia súc. Họ sống du mục.

Nhà ở của đồng bào Mông thường được xây dựng ở nơi gần nguồn nước gần nương đi lại thuận tiện. ở những nơi địa thế hiểm trở khi làm nhà đồng bào phải tính đến những đổi thay của thời tiết: mưa to gió lớn làm sụt lở đất đai những khối đất đá lớn có thể xô xuống đè nhà đè cửa. Nhà ở của dân tộc Mông về cơ bản cũng có thể chia thành hai loại tương ứng với hai loại bản tức là nhà định cư lâu năm và nhà du cư sống tạm.

Nhà định cư là nhà của những  người Mông sống định canh ở các tỉnh Hà Giang Lào Cai... Nhà định cư được xây dựng có độ bền vững khá nguyên liệu để làm nhà là gỗ và đất. Gỗ dùng để làm mái đất dùng làm nguyên liệu trình tường. Trên mái lợp bằng ngói máng hoặc lợp cỏ gianh. Kỹ thuật làm mộc khá tinh xảo dùng đến các công cụ cưa xẻ đục bào. Đồng bào thường đun nấu sưởi ấm ở trong nhà nên nhà ấm và làm tăng thêm độ bền của nhà. Loại nhà này có cái phải ở được hai đời người.

Nhà du cư là nhà ở của những người Mông sống du canh chủ yếu ở các tỉnh Tây Bắc và Thanh Nghệ. Do cuộc sống du canh nên nhà du cư cũng sơ sài hơn và kém bền vững hơn nhà định cư. Nguyên liệu để làm nhà là gỗ tre nứa lá. Nhà du cư cũng không đòi hỏi kỹ thuật xây dựng cao như nhà định cư. Công cụ làm nhà chủ yếu là dao búa cưa.

Cấu trúc chung của ngôi nhà dân tộc Mông gồm ba gian gian giữa có cửa chính nhìn về phía trước nhà. Đây là gian tiếp khách. Vách sau của gian giữa là chỗ thiêng cửa chính của nhà có ngưỡng cao khoảng 40cm. ở một gian bên cạnh có bếp nếu cám lợn nấu cơm có buồng ngủ của con lớn. ở đây cũng có một cửa phụ để người là đi lại. Hàng ngày đi làm về người trong gia đình chủ yếu đi lại bằng cửa này. Gian bên kia cũng có một bếp sưởi và buồng ngủ của ông bà chủ nhà.

Nhà người Mông thường có gác nhỏ để chứa lương thực hoa màu hoặc thực phẩm khô.

Với ngôi nhà dân tộc Mông có một số điều kiêng kỵ cần chú ý. Khi đi vào cổng nhà hoặc đến cửa nhà nếu thấy có cành lá canh cắm ở cổng hoặc cạnh cửa đấy là dấu hiệu cấm người ngoài vào nhà. Bởi vì theo thầy cúng sau khi con ma đã bị đuổi đi nó có thể lại núp dưới bóng người vào làm cho người trong nhà ốm lại. Khi bước vào nhà người Mông không được dẫm lên ngưỡng cửa khách cũng như chủ chỉ có thể bước qua ngưỡng cửa đi vào nhà. Có dòng họ phụ nữ (con dâu và con gái) không được trèo lên gác. Con dâu không được vào buồng ngủ bố mẹ chồng và ngược lại bố chồng không được vào buồng con dâu.

Kèm theo ngôi nhà ở thường có các công trình xây dựng phụ như chuồng gia súc (trâu bò ngựa...) chồng lợn gà... và cả một khu vườn. Thông thường có hàng rào để  phân định rõ ranh giới của mảnh đất thổ cư này. ở vùng Đồng Văn Mèo Vạc hàng rào ranh giới được xếp bằng đá. Những hòn đá có hình thù thật đa dạng nhưng đồng bào có nghệ thuật xếp rất giỏi. Mỗi gia đình có hàng rào đá cao bằng đầu người dài hàng trăm mét mà tồn tại từ năm này qua năm khác không bị đổ. ở phía Tây Bắc chủ yếu là núi đất và còn nhiều cây cối do vậy hàng rào được làm bằng cây trồng cây sống làm cọc rào.

2. Đồ dùng trong gia đình

Đồ dùng cổ truyền trong gia đình của đồng bào Mông chủ yếu là những hiện vật được làm từ gỗ tre nứa.

Chiếc chõ đồ "máo của" (đồ cơm) được làm bằng một khúc gỗ tròn cưa hai đầu đục khoét rỗng ở giữa. Chõ cao khoảng 60cm đường kính khoảng 40cm. Để hai mấu ở hai bên chõ làm tay xách. Đồng bào dùng chiếc chõ để đồ cơm ăn hàng ngày. Sau khi đồ cơm chín chiếc chõ đồng thời dùng để chứa cơm ăn suốt ngày.

Chiếc thùng chứa nước làm bằng nhiều mảnh gỗ ghép lại. Thùng có nhiều cỡ khác nhau. Loại nhỏ bằng chiếc chõ dùng để gùi nước từ giếng từ khe về hoặc xách nước từ sân vào nhà. Loại to hơn cao khoảng 1m có đường kính khoảng 60-70cm dùng để chứa nước trong nhà hoặc chứa nước chàm nhuộm vải. Đôi khi ta gặp những thùng chứa nước chàm cao hơn rộng hơn nữa.

Chiếc chậu ghép bằng gỗ được dùng rất phổ biến: gia đình nào có vải ba chậu loại này. Tuy là những tấm gỗ ghép lại với nhau nhưng nhờ trình độ kỹ thuật cao nên chứa nước rất tốt. Đồng bào dùng chậu chứa nước rửa rau rửa bát.

Bát gỗ được làm bằng kỹ thuật tiện. Bát gỗ tiện thường to và đồng bào hay dùng để đựng canh trong bữa ăn gia đình.

Thìa gỗ là phương tiện để ăn. Loại thìa này được dùng phổ biến ở vùng Mông. Thìa gỗ gồm hai bộ phận là bản thìa và cán thìa được ghép vào với nhau theo kỹ thuật làm mộng rất chắc chắn và rất khít.

Bàn ăn

Trong gia đình đồng bào Mông thường có bàn để ăn cơm. Bàn bằng gỗ có hình vuông mỗi bề khoảng 80cm đến 100cm cao khoảng 60cm. Chân bàn được đóng hơi thụt vào khoảng 8cm đến 10cm so với mép bàn.

Ghế ngồi

Ghế ngồi được làm từ một miếng gỗ và sử dụng để ngồi ăn cơm sưởi lửa. Đối với loại bàn cao đồng bào dùng ghế băng để ngồi. Ăn cơm ở mâm thấp hoặc ngồi sưởi lửa đồng bào dùng loại ghế cao khoảng 10cm - 15cm.

Giường ngủ

Đồng bào Mông làm giường ngủ bằng cây mai cây vầu đan thành phê nan hoặc phản gỗ. Có hai loại giường: loại giường được đóngkhung vững đặt trên mặt đất và loại dùng cột gỗ chôn thẳng xuống đất làm chân giường sau đó gác phên lên để ngủ. Cả hai loại đều gặp ở nhiều nơi khác nhau. Giường của đồng bào Mông thường hẹp và ngắn. Chiều dài trung bình của giường khoảng 1m60 - 1m80 còn chiều rộng của giường dùng cho hai vợ chồng là khoảng từ 80cm - 1m20. Đôi khi chúng ta gặp giường ngủ rộng khoảng 70cm mà vẫn để cho hai người ngủ vì xứ rét thiếu chăn đắp.

Trong các đồ dùng được làm bằng tre ngoài chiếc gùi mà chúng tôi đã giới thiệu ở phần công cụ lao động. còn có rá đựng cơm trong bữa ăn gia đình. Rá đựng cơm được đan bằng nan tre đường kính miệng rá khoảng 40cm cao không quá 20cm. Mỗi bữa ăn họ xúc cơm trong chõ ra rá. Một rá cơm để ở giữa bàn ăn. Từng người dùng thìa gỗ xúc lấy cơm trong rá. Không dùng bát đũa để ăn. Hiện nay chỉ những bộ phận chưa định cư ăn theo cách này còn bộ phận dân đã định cư thì cũng dùng bát đũa như các dân tộc khác.

3. Thức ăn uống hút

Trên thế giới người ta ăn nhiều thứ khác nhau. Các cư dân chăn nuôi du mục thì ăn thịt là chính; những cư dân sống bằng nghề đánh cá biển ở phương bắc ăn cá là chính. Đối với đồng bào Mông nguồn sống chính là cây ngô và lúa nương. Đồng bào Mông ở Đồng Văn Mèo Vạc...(tỉnh Hà Giang) ăn ngô là chính. Trên nương của đồng bào trồng toàn ngô và họ quen ăn ngô quanh năm. Đối với đồng bào Mông ở Tây Bắc cây lúa nương là nguồn lương thực chính của họ.

Từ hạt ngô chế biến thành cơm ngô (máu của) khá cầu kỳ. Người ta xay ngô hạt thành bột nhỏ bằng cối xay đá rất nặng. Phải hai người khoẻ xay khoảng một tiếng đồng hồ mới đủ cả nhà 5 đến 6 n m ăn cả ngày. Xay xong phải sàng sảy cho sạch  mày ngô. Sau đó bột ngô được đổ ra mẹt và người ta rưới một tí nước lạnh vào bột dùng tay vò cho bột thấm nước đều. Bột ẩm vừa phải cho bột vào chõ bắc chõ lên chảo nước trên bếp lửa hồng để đồ. Đun cách thuỷ như vậy đến khi hơi nước từ chảo bốc xuyên qua bột ngô lên miệng chõ độ nửa tiếng thì đổ bột ngô đó ra mẹt. Tiếp tục vẩy nước lã vào bột ngô dùng tay vò cho nước thấm đều bột ngô tơi đều. Sau đó tiếp tục đồ lần thứ hai. Lần này cũng chờ cho hơi nước từ chảo bốc lên độ nửa tiếng là bột ngô chín kỹ có thể ăn được. Mỗi ngày mỗi gia đình đồ một chõ "máu của" để ăn cả ngày do vậy chõ đồ cần phải to. Công việc đồ xôi được tiến hành từ khi trời chưa sáng. Con dâu hoặc con gái lớn trong gia đình phải dậy để đồ cơm từ  lúc gà gáy đến khi trời sáng là cơm đã sẵn sàng. Thường thường đồng bào luộc rau vào nước đồ cơm luôn. Rau luộc theo cách này chín rất kỹ thậm chí đến nhừ.

Đối với vùng đồng bào quen ăn cơm lúa nương thì khâu chế biến từ gạo thành cơm đơn giả hơn. Từ thóc giã sàng sảy lấy gạo như mọi dân tộc khác. ở những nơi có điều kiện thuận tiện nguồn nước suối đồng bào cũng lợi dụng sức nước làm cối giã gạo. Gạo ngâm nước độ một buổi sau đó mới đem đồ. Đồ cơm cũng như đồ ngô phải chú ý đun lửa cho hơi nước bốc từ chảo qua gạo bốc lên. Sau khoảng một tiếng đồng hồ tính từ khi bốc hơi thì cơm chín.  Đồ cơm chỉ đồ một lần không phải đồ hai lần như đồ bột ngô cũng nơi nấu cơm giống như các dân tộc khác. Có nơi lại luộc gạo trước gần chín thì vớt ra cho vào chõ đồ tiếp. Trường hợp này đôi khi người ta còn  trộn thêm bột ngô vào rồi mới đồ như đồ ngô. Nước đồ cơm và cả đồ ngô cũng là nước luộc rau nên đồng bào dùng làm canh rất ngon.

Một bữa ăn thông thường của đồng bào Mông gồm một rá cơm một hai bát canh rau cải hoặc canh đậu răng ngựa cũng có thể là canh đậu hoà lan. Đặc điểm canh cảu đồng bào Mông là rất nhạt muối. Ngoài món canh thường có món ớt nướng giã với muối. ớt khô thì vùi vào trong tro bếp nóng đem ra giã với muối hoà nước thành nước chấm muối ớt. ớt tươi thì đem nướng trên than hồng giã với muối rồi trộn với cà chua nướng chín. ở những  nơi trồng đậu tương đồng bào thường xuyên chế biến thành món đậu xị để làm thức ăn mặn.

Đồng bào Mông thường chế biến thức ăn theo hai cách chính:

- Luộc nhừ nhiều nước nhạt muối

- Rang khô đậm muối

Đối với các loại rau xanh chủ yếu là luộc nhừ và cho muối rất nhạt. Đối với các loại thịt cá họ thường rang khô hoặc nướng khô và cho muối mặn. Cũng có trường hợp thịt đem ninh nhừ. Trong những ngày lễ tết cưới xin ma chay... thì thức ăn được chế biến rôm rả hơn có đầy đủ các món thịt rang nướng luộc có lòng gan rang với gừng có tiết canh thịt ninh.

Một món ăn đặc trưng cho dân tộc Mông là món "thắng cố". Nghĩa đen của từ "tháng cố" là canh chảo. Món này là tất cả các loại thịt xương lòng gan tim phổi của một con vật như bò dê chó... được chặt thành từng miếng nhỏ rồi đem nấu chung trong một chảo canh. Vào những dịp trang trọng như cưới xin ma chay... đồng bào hay nấu món thắng cố. Vào các ngày chợ phiên ở Đồng Văn Mèo Vạc Phó Bảng Lũng Phìn (Hà Giang); Mường Khương Bắc Hà (Lào Cai) cũng rất sẵn món ăn này bày bán ở chợ. Người đi chợ thường hay mua tháng cố ăn với cơm mang sẵn từ nhà đi.

Thức uống của đồng bào Mông tương đối đơn giản. Hàng ngày ở nhà đồng bào uống nước rau luộc nước lã nước chè sẵn thứ nào uống thứ đó. Khi đi làm trên nương chủ yếu uống nước lã từ trong khe chảy ra. Nước khe chảy từ trong lòng đất ra rất trong rất ít chất bẩn ít độc tố. Đồng bào Mông uống rượu do đồng bào tự nấu từ ngô. Rượu Bắc Hà (Lào Cai) ngon nổi tiếng. Rượu được dùng phổ biến trong các dịp lễ tết ma chay cưới xin...bạn bè gặp nhau thăm nhau cùng lấy chén rượu làm vui. Chén rượu còn là tình cảm chân thành và đằm thắm của người mời đối với người được mời. Người được mời uống chén rượu là trân trọng tình cảm của người mời. Vào các ngày  chợ phiên có hiện tượng các chàng trai thậm chí các bậc trung niên đi chợ gặp nhiều bạn thân tình uống nhiều rượu với nhau say khướt say mềm trên đường về nhà.

Đồng bào Mông hút thuốc lá khá phổ biến. Thuốc do đồng bào tự trồng loại thuốc này lá to dày. Đồng bào thái thuốc lá thành sợi và hút theo kiểu đồn bào Kinh hút thuốc lào. Thuốc lá cũng là thứ đồng bào dùng mời chào khách bắt mối câu chuyện. Khách đến nhà mời ngồi quanh bếp lửa chủ lấy điếu và bốc đúm thuốc mời khách hút là biểu thị lịch sự và tôn trọng khách. Khi người này hút xong chủ lại mời người khác.

Trong đồng bào Mông có nhiều người trồng và hút thuốc phiện. Có một số trường hợp nghiện hút nặng ảnh hưởng đến sức khoẻ ảnh hưởng đến sản xuất. Nhìn chung đồng bào không đồng tình với người nghiện hút.

4. Trang phục của đồng bào Mông

Quần áo là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người. Nhưng nguyên liệu để làm quần áo cách cắt và màu sắc quần áo của các dân tộc không giống nhau. Cư dân chăn nuôi dùng lông gia súc chế biến thành len dạ rồi từ đó làm ra quần áo. Những cư dân sống bằng nghề săn bắn thì tận dụng da thú để mặc. Đối với cư dân trồng trọt thì thường trồng các loại cây có sợi thớ.... để dệt ra vải làm quần áo. Đồng bào Mông cũng là cư dân trồng trọt họ dệt vải từ cây có sợi thớ đó là cây lanh.

Quá trình từ khâu gieo trồng cây lanh đến khâu làm ra quần áo thật là công phu nhưng việc dùng vải lanh đã trở thành tập quán truyền thống của đồng bào; mặt khác vải lanh rất bền có thể gấp ba bốn lần vải bông nên đồng bào thích dùng vải lanh.

Tháng một tháng hai có nơi tháng hai tháng ba là thời vụ trồng lanh. Sau ba tháng sinh trưởng cây lanh đến mùa thu hoạch. Để quá ba tháng cây lanh sẽ bị già.  Sợi lanh già không tốt. Khi thu hoạch lanh đồng bào chặt cả cây (cao khoảng hơn 2m) đem về để vài ngày cho tái sau đó tước lấy vỏ. Vỏ cây lanh được tước ra thành sợi nhỏ và nối với nhau một cách khéo léo để không tạo thành mấu ở chỗ nối. Đây là việc làm đòi hỏi nghệ thuật nhẹ nhàng kiên trì nhẫn nại. Vì vậy hầu như lúc nào phụ nữ Mông cũng đều tranh thủ tước và nối các sợi lanh. Lên vùng người Mông chúng ta thường gặp chị em luôn tay tước và nối các sợi lanh trên đường đi từ  nhà lên nương và đi từ nương về nhà. Tiếp theo người ta mắc các sợi lanh vào khung và  quay cho chúng xoăn lại rồi làm thành cuộn sau đó đem những cuộn sợi này luộc trong nước tro giặt sạch nước tro sợi lanh sẽ có màu trắng. Việc chuẩn bị sợi đến đây kết thúc. Sợi đã sẵn sàng đưa lên khung cửi để dệt thành vải.

Đồng bào Mông dệt vải trên khung cửi đơn giản chỉ có hai thanh gỗ dựng đứng với vài thanh ngang đóng thành khung cố định (đã trình bày trong phần công cụ sản xuất). Khi dệt người ta phải buộc chúng dựa vào cột nhà người dệt ngồi trên chiếc ghế đẩu. Có đôi nơi khung cửi đã hoàn chỉnh hơn tạo thành một khối có thể đứng độc lập trong đó có cả chỗ ngồi cho người dệt. Dệt vải là công việc tranh thủ sớm hôm chiều tối chủ yếu là mùa đông vì mùa đông rét công việc trên nương ít cho nên chị em phụ nữ thường bận việc dệt vải quanh năm mà công việc thì tiến triển rất chậm chạp.  Khi dệt được vải rồi người ta đem vải đó nhuộm chàm thành vải may quần áo nam giới. Vải không nhuộm sẽ có màu trắng dành làm váy cho người Mông trắng; với một loại Mông Hoa thì xẽ sáp ong lên vải trắng những đường hoa văn hình học theo ý muốn sau đó mới đem nhuộm chàm.

Trang phục nam giới

Nam giới Mông mặc quần áo màu chàm màu đen. áo xẻ nách   mở vòng qua dưới cổ trên ngực chéo sang phải. áo ngắn hở da bụng. Người giầu thường thêu hoa văn sặc sỡ trên hai cánh tay áo trông như đeo vòng ở ngoài áo. Đó là loại áo cổ còn giữ được ở Tây Bắc và vùng cao khu Bốn cũ. Lên vùng cao Việt Bắc: Lào Cai Hà Giang đồng bào mặc áo tứ thân xẻ ngực cổ lửng may bốn túi (2 túi trên ngực 2 túi dưới có 7 cúc được thắt bằng vải).

Riêng ở Sa Pa và một vài nơi khác nam giới còn mặc áo khoác ngoài đó là chiếc áo dài để hở ngực không cài cúc cộc tay như kiểu áo gilê. Trong các dịp lễ tết hội hè đồng bào hay mặc loại áo này thể hiện sự lịch sự tôn trọng mình tôn trọng một người.

Quần nam giới chỉ có một kiểu đó là kiểu quần chân quê không dài lắm nhưng đũng và ống rộng thoải mái cử động. Màu của quần cũng là chàm hoặc đen như áo. Kiểu cắt quần này ta gặp ở hầu hết nông dân các dân tộc như Tày Nùng Dao Kinh...

Quần áo nam dân tộc Mông hoàn toàn rất ít trang trí hoa văn thêu thùa. Riêng chiếc áo xẻ nách ở một số địa phương có thêu hoa văn ôm lấy cánh tay áo như đã mô tả ở trên.

Trang phục phụ nữ

Phụ nữ Mông mặc hai kiểu áo khác nhau. Kiểu áo tứ thân xẻ ngực không cài cúc không khâu vắt gấu áo. Khi mặc gấu áo luôn cho vào trong cạp váy bên ngoài váy đeo tạp dề thêu hoa và thắt lưng hoa. Tuy nhiên ở đây chúng ta nhận thấy có sự khác nhau trong chi tiết giữa áo phụ nữ Mông ở Đồng Văn Mèo Vạc (Hà Giang) với áo phụ nữ Mông ở Tây Bắc.

Chiếc áo của phụ nữ Mông ở Đồng Văn Mèo Vạc ngắn hơn và hẹp hơn chiếc áo phụ nữ Mông ở Tây Bắc. áo thường có màu đen hoặc màu xanh. Đôi khi chị em khâu áo bằng hai lớp vải khác màu (màu đen và màu xanh) và mặc cả hai mặt. ở trên ống tay áo có khâu đắp thêm những miếng vải khác màu. Thường là áo đen thì miếng khâu đắp thêm vào có màu xanh hoặc nếu áo là màu xanh thì họ lại khâu miếng vải màu đen vào. ở mép áo trước ngực họ khâu thêm hai miếng vải màu làm tăng vẻ sáng sủa của chiếc áo. Thông thường đây là những miếng vải vàng hoặc đỏ. ở áo của phụ nữ Mông trắng vẻ đẹp tập trung ở cổ áo. Cổ áo không phải dựng đứng mà treo trên cả vai phía sau lật xuống như cổ áo hải quân cổ phía trước ngực gần như cổ áo veston. Cổ áo được thêu thùa nhiều màu khác nhau. áo diện là phải có cổ áo đẹp diêm dúa sặc sỡ. Vì vậy khi khâu áo chị em rất chú ý đến việc trang trí cho chiếc cổ áo. Thêu cổ áo rất cầu kỳ cần nhiều thời gian chính vì vậy người ta hay dành nhiều thì giờ tập trung thâu nhiều cổ áo để sẵn khi may áo mới là lắp vào luôn. Những chiếc cổ áo cưới càng được thêu đẹp hơn.

Chiếc áo phụ nữ Mông ở Tây Bắc về cơ bản giống chiếc áo phụ nữ Mông ở Đồng Văn Mèo Vạc (Hà Giang) nhưng cách trang trí của họ cầu kỳ hơn mầu sắc sặc sỡ hơn. Trước hết kiểu cắt như nhau song ở Tây Bắc người ta cắt rộng và dài hơn nhiều. Về trang trí ngoài cổ áo và nẹp áo trước ngực như đồng bào Mông ở Đồng Văn Mèo Vạc ở Tây Bắc người ta còn trang trí ở cánh tay và sau lưng bằng những bức thêu hoa văn rất hài hoà trang nhã. Mỗi cánh t ay được trang trí hai miếng hoa văn - phía trước một miếng phía sau một miếng và trên hai bả vai hai miếng nữa. Sáu miếng hoa văn này thêu hoàn toàn như nhau. Nếu ở nẹp áo trước ngực và cổ áo chúng ta thấy đồng bào trang trí bằng những màu vàng đỏ rất sặc sỡ thì những bức thêu ở cánh tay và trên bả vai lại rất nhã và dịu. ở Tây Bắc quanh năm bốn mùa chị em phụ nữ chỉ mặc một loại áo này.

Ngoài kiểu áo tứ thân xẻ ngực như đã trình bày ở trên chúng ta còn gặp một số phụ nữ Mông hoa ở Việt Bắc Lào Cai mặc loại áo năm thân xẻ nách với một dải hoa văn sặc sỡ các màu đỏ vàng tím được thêu thành một vòng trên bả vai. Kiểu cáo và cách trang trí hoa văn tương tự như trên áo này chúng ta gặp ở một số dân tộc khác phổ biến hơn cả là ở người Giáy cư trú ở huyện Bát Xát (Lào Cai).

Váy

Xưa nay phụ nữ Mông có thói quen mặc váy chứ không mặc quần. Váy của phụ nữ dân tộc Mông là một  trong những đặc điểm được các nhà nghiên cứu dân tộc học chú ý. Nhiều ý kiến đã dựa vào đây để phân biệt các nhóm Mông. Váy của dân tộc Mông là loại váy mở có nhiều nếp gấp chiều dài của váy gần bằng chiều rộng của hai khổ vải dệt thủ công (khoảng 70cm) nếu trải rộng váy chiều rộng của váy có thể dài khoảng 2m. Phần cạp váy được khâu xếp lại cho vừa một vòng bụng và có hai dải dây để buộc. Váy của phụ nữ Mông nhìn chung có ba loại màu sắc khác nhau.

- Váy màu trắng

- Váy thêu hoa in hoa và ghép vải hoa

- Váy nhuộm đen

Váy trắng là váy của phụ nữ Mông trắng (Mông đấu). Váy được khâu bằng vải lanh trắng màu tự nhiên. Trên váy không có một đường thêu không có một vết nhuộm. Mặc váy trắng trong lao động hàng ngày dễ bị bẩn nhưng khi giặt nhất là giặt nước tro thì càng giặt càng trắng ra. Khâu váy trắng đơn giản ít tốn công chị em ít vất vả hơn khâu váy hoa mặc váy trắng lại sạch.

Váy thêu hoa in hoa và ghép vải hoa là váy của phụ nữ Mông hoa (Mống Lềnh). Hoa văn được thêu in ghép vải trên những tấm vải lanh. Sau khi thêu xong họ khâu lại thành váy. Phần thêu hoa văn được thực hiện ở nửa dưới của váy. Môtíp hoa văn chủ yếu là những hình kỳ hà: hình chữ nhật hình vuông hình thoi. Màu chính của hoa văn là màu đỏ vàng tím xanh. Loại váy hoa được miêu tả trên đây chúng ta gặp nhiều ở Lào Cai. ở bên Hà Giang váy hoa được làm đơn giản hơn. Đồng bào không thêu chỉ màu mà chỉ thực hiện hoa văn bằng những đường nét trắng trên nền chàm thông qua kỹ thuật vẻ sáp ong.

Váy đen là váy cảu phụ nữ Mông đen (Mống đú). Váy cũng bằng vải lanh nhưng nhuộm màu đen (chàm).

Tạp dề

Tạp dề là một bộ phận cấu thành của trang phục phụ nữ Mông. Phụ nữ Mông luôn luôn đeo hai miếng tạp dề ở bên ngoài váy - một miếng ở phía trước một miếng ở phía sau. Bộ trang phục thông thường là không thể thiếu tạp dề. Tạp dề cũng được thêu hoa văn ghép vải các màu đỏ vàng tím xanh rất sặc sỡ. Tạp dề to hay nhỏ là tuỳ vào cỡ tạng người. Điều căn bản là làm sao khi đeo hai miếng tạp dề đủ ôm lấy hông người. Chiều dài của tạp dề thường dài hơn váy một chút. Đồng bào quan niệm đeo tạp dề và quấn xà cạp và ý tứ kín đáo của phụ nữ Mông.

Thắt lưng

Thắt lưng của phụ nữ Mông là một miếng vải rộng khoảng 8cm - 10cm dài khoảng 80cm-100cm. Chỉ  ở đoạn giữa của thắt lưng với chiều dài khoảng 40cm là được thêu hoa văn các màu. Thắt lưng được quấn ngang bụng tôn vẻ đẹp gọn gàng đàng hoàng của phụ nữ.

Đối với đồng bào Mông quần áo lao động thưởng ngày và quần áo các ông bà già thường không cầu kỳ về hoa văn trang trí. Lớp tuổi thanh niên và trung niên thường mỗi người có một bộ đẹp để mặc trong dịp cưới xin tết nhất hội hè... Người già hay để dành sẵn một bộ áo váy (đối với nữ) áo quần (đối với nam) đẹp để "làm thuốc" khi chết thì mặc...

Trong dân tộc Mông sự phân biệt giàu nghèo là rõ ràng nhưng trang phục của người giàu không có cách cắt khác với trang phục của người nghèo. Người giàu thường mặc quần áo mới hơn nhiều hoa văn hơn.

Trong y phục của đồng bào Mông có nơi có áo cúng bò tức là áo mặc trong lần giết bò làm ma cho bố mẹ. Đó là kiểu áo tứ thân làm bằng vải lanh trắng dài và rộng xẻ ngực áo có cổ như kiểu cổ áo của phụ nữ.

Đồng bào Mông còn có kiểu áo mặc cho người chết. Theo tập quán của dân tộc Mông có nơi khi còn sống người ta đã chuẩn bị cho mình chiếc áo mặc khi chết. Cũng như áo cúng bò áo mặc khi chết được khâu bằng vải đẹp và nhất thiết phải là vải lanh. Kiểu áo tứ thân xẻ ngực không cài cúc. Cổ áo tương tự như cổ áo của phụ nữ. Cho nên nay nam nữ dân tộc Mông khi chết vẫn mặc loại áo này.

Khăn mũ đội đầu

Người Mông xưa kia cả nam và nữ chủ yếu đội khăn nam giới đội khăn xếp phụ nữ chít khăn mỏ quạ.

Ngày nay ở Việt Bắc nam giới phổ biến là cắt tóc ngắn đầu đội mũ kiểu lưỡi trai. Mũ được khâu bằng vải rất dầy. Phụ nữ Việt Bắc đội khăn vuông chít mỏ quạ. Ngày nay họ thường mua khăn len có nhiều màu sắc sặc sỡ để đội. Vào những ngày chợ phiên hay những dịp hội hè lễ tết chị em thanh niên thường đội hai khăn chồng lên nhau. Mầu sặc sỡ của khăn tô thêm nét tươi tắn trên khuôn mặt chị em.

ở Tây Bắc phụ nữ đội khăn để tóc dài và quấn vòng quanh đầu. Nam giới thường để một chỏm tóc dài ở trên đỉnh đầu và đội khăn trắng - loại khăn mặt tổ ong.

Trẻ em Việt Bắc và Tây Bắc đều đội mũ. Mũ làm bằng vải thông thường như vải làm quần áo. Cắt sáu miếng vải hình tam gáic cân chụm sáu đỉnh tam giác lại khâu các cạnh vào với nhau. Trên chỏm mũ thường được trang trí bằng các dây vải tạo thành tua rua sặc sỡ đẹp mắt.

Chiếc ô

Đồng bào Mông dùng ô để che mưa che nắng. Ô có hai loại loại lợp bằng vải và loại lợp bằng giấy quang dầu. Ô bằng vải có thân là một đoạn sắt rỗng và nan bằng thép. Còn ô bằng giấy thì thân là một đoạn trúc nan làm bằng tre. Ô bằng vải thường chỉ có một màu đen còn ô bằng giấy thì thường nhiều màu sặc sỡ.

Xà cạp

Phụ nữ Mông hay dùng xà cạp nam giới trước kia cũng dùng nhưng nay phần lớn không dùng. Xà cạp được làm bằng những miếng vải đen hay xanh   cắt chéo hình tam giác với chiều rộng khoảng 20cm và chiều dài khoảng 100cm. Phần chân được quấn xà cạp là từ mắt cá (cổ chân) lên đến sát đầu gối. Bắt đầu quấn từ đầu to và quấn từ dưới lên. Xà cạp chỉ dùng ban ngày sau khi đi làm về họ tháo ra. Riêng mùa rét họ quấn cả ban đêm khi ngủ.

Dép

Dép của đồng bào Mông có loại được làm từ những sợi dang tước nhỏ xoắn lại bện thành. Dép kiểu này thường thường để đi lại trong nhà đi ra ngoài nhà cho đỡ lạnh và chống trơn. Ngày nay loại dép  này còn lại rất ít phổ biến đồng bào dùng dép cao su. Mùa hè khi thời tiết ấm áp đồng bào hay đi chân đất. Còn mùa đông rét buốt đồng bào hay đi dép cao su.

 môtíp hoa văn

Điểm qua các môtíp hoa văn trên trang phục của dân tộc Mông chúng ta thấy có những mô típ chính sau đây: mô típ hình chữ thập hình vuông   hình chữ nhật hình thoi hình xoáy tròn ốc và thỉnh thoảng ta bắt gặp những mô típ không xác định được.  Nhiều học giả cho rằng các loại mô típ hoa văn hình học là mô típ hoa văn cổ truyền của dân tộc Mông(1). Mô típ hoa văn này được hình thành trên cơ sở sợi ngang của kỹ thuật dệt trên khung cửi và sau này được lặp lại trong kỹ thuật thêu.

Nghiên cứu mô típ hoa văn trên y phục của dân tộc Mông ở Trung Quốc R.F.Ist còn ghi được mô típ hoa văn hình con gà con cua con bướm con cá. Ông ta cho đây là phong cách mới. Trên bức thêu hoa văn của người Mông chúng tôi không thấy có mô típ hoa văn chữ tượng hình hoa văn con rồng con chim phượng hoàng cây thông... là những hoa văn đặc trưng cho dân tộc Hán. Tô - ri một học giả Nhật Bản khi nghiên cứu trang trí hoa văn của người Miêu ở Trung Quốc đã có nhận xét là hoa văn của người Miêu khác với hoa văn của các dân tộc láng giềng thời xưa như người Bố Y. Trong khi đó ở một mức độ nhất định chúng lại gần với hoa văn của một số dân tộc thuộc khối Thái (Tày Nùng Thái) trong đó có người Choang ở Quảng Tây. Hoa văn của người Miêu ở đảo Hải Nam lại rất gần với người Việt Nam. Sự gần gũi giữa hoa văn Miêu và Dao là điều đã rõ ràng.

Đối với người Mông ở Việt Nam ta thấy phổ biến nhất là các mô típ hoa văn hoa văn hình học. ở họ chưa thấy có những mô típ hoa văn thể hiện thế giới tự nhiên bên ngoài: hình người hình chó hình chim cây thông... như ở người Dao. Hoa văn trên y phục dân tộc Mông là vấn đề lý thú nhưng việc nghiên cứu nó chưa được bao nhiêu. Nhu cầu khách quan đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục tìm hiểu ý nghĩa của các mô típ hoa văn thị hiếu thẩm mỹ của dân tộc Mông thể hiện qua sự kết hợp mầu sắc.

 Trang sức

Trang sức vừa là nhu cầu thẩm mỹ vừa là khoe của; đôi khi nó còn mang màu sắc mê tín. ở chừng  mực nhất định việc sử dụng chất liệu làm đồ trang sức có liên quan chặt chẽ đến việc bảo vệ sức khoẻ và có thể cả vấn đề ngừa thai sinh đẻ theo ý muốn.

Trang sức thường được thể hiện một cách phong phú và đầy đủ ở người phụ nữ. Những hình thức trang sức đầu tiên mà chúng ta có thể kể đến là cạo mặt sửa lông mày cắt tóc mai... Những hình thức trang sức này không riêng đối với người Mông mà nhiều dân tộc khác cũng sử dụng nó.

Đồ trang sức của người Mông được làm chủ yếu bằng bạc. Đó là các loại trang sức thông thường như:

  • - Khuyên tai
  • - Vòng cổ
  • - Vòng tay
  • tathuyen

    Gửi anh Cẩn

    Là em đây ạ hôm nay em mới dò được blog của anh đọc liền một hồi rồi commieng luôn một thể. Em thấy anh nghiên cứu kỹ về dân tộc Mông ghê. Em cũng hay nghe ngóng và xem xét các sinh hoạt của đồng bào ta qua những lần đi thực tế sau về lười không viết ra thành bài vở gì cả. Đọc anh thấy mình bỏ qua nhiều tư liệu hay mà không biết. Anh viết tiếp các phần sinh hoạt của bà con vùng cực bắc đi nhé. Chúc anh vui và viết khoẻ. Em:Tathuyen.vnwblogs.com