Ngày đi qua (5)

 

 

     5

     Hai anh về thăm nhà vào cuối hè năm tôi vừa vào học lớp bảy  trường cấp II Văn Quán gần nhà. Bố mẹ đỡ thở dài bởi trước đó  có bao nhiêu là tin đồn thất thiệt về cả hai anh. Có tin ngay sau hòa bình nhân lúc nhộn nhạo hỗn quân hỗn quan hai anh em rủ nhau chạy trốn vào Nam. Lời đồn ác ý nhưng bố mẹ tôi cắn răng nghe chứ biết nói sao bởi lẽ hòa bình đã sáu năm mà vẫn biệt tăm tích thì anh tôi đi đâu? Nhà quê là thế đi thì chỉ rạch mỗi một lối nhất nhất rồng rắn hàng một bố đi trước con đi sau chồng đi trước vợ đi sau con đi trước cháu đi sau già đi trước trẻ đi sau; đường làng to bằng đường cái quan cũng chỉ một cái lối tin hin vừa lọt một bàn chân mà đi người sau dẵm vừa khít lên dấu người đi trước. Nhưng tai người làng  thì vểnh lên hóng hớt chuyện thiên hạ. Một tiếng hắt xì hơi ở đầu làng cuối làng đã biết! ...

     Rồi xem nếu hai anh vẫn còn biệt tăm thì lời đồn còn  thêu dệt anh tôi đi làm địch rồi cũng nên. Hú vía cả hai anh tôi lần lượt về.

      Trước ngày anh tôi về có anh bộ đội làng bên đi phép nhắn tin cho biết anh tôi sắp được thăm nhà làm  mẹ tôi mất ăn mất ngủ. Mẹ cứ ngồi dưới bóng tre ở cổng ngóng ra tận đầu đường làng. Ngóng hai ba ngày vẫn chẳng thấy tăm hơi nhưng đến đúng lúc mẹ bưng chậu cám lúi húi cho lợn ăn thì anh cả đã đứng ở đầu hồi gọi bầm làm mẹ giật mình. Mẹ nhìn thấy con trai  cả vội cầm cả chiếc gáo chạy ra cổng cứ vung chiếc gáo lên mà chửi cha tiên nhân nhà chúng nó con bà đi đánh giặc mà nó độc mồm độc miệng vu cho con bà nào là chạy theo quân cướp nước nào là đi với bọn mắt xanh mỏ đỏ! Chửi một chặp mẹ ngồi ray rả khóc kể lể ối con ơi con đi  con không về để người ta ức hiếp người ta cướp hết của  cả rồi bây giờ mới về thì lấy gì mà nuôi nhau. Anh tôi xin thôi bầm ơi mẹ vẫn khóc. Cho đến khi bố tôi gắt khóc lóc gì mách giáp mẹ mới trấn tĩnh lại hỏi anh tôi được một câu con đi những đâu mà bỏ bố bỏ mẹ lậu vậy hả con ? Mẹ hỏi làm anh tôi cũng rơm rớm nước mắt.         

       Chị dâu tôi cũng khóc nhưng không thành tiếng chỉ lẳng lặng kéo vạt áo chấm nước mắt. Chị về làm dâu nhà tôi từ năm mới 16 tuổi được ba ngày thì anh đi biền biệt đến giờ 28 tuổi mới về. Năm đánh trận Điện Biên trai gái trong làng rủ nhau đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch Trần Đình chị tôi xin bố mẹ chồng  chạy theo cầu may lên đó gặp được anh. Các cô dân công gánh mỗi người hai sọt gạo từ Yên Bái ngược Tây Bắc toàn đi đường rừng núi vẽ đường ra mà đi. Đoàn dân công ngày đi đêm ngủ lăn lóc trên đường xin sắn xin ngô xin rau cỏ  của dân bản mà ăn còn gạo trên vai một hạt cũng không động đến để giành nuôi bộ đội đánh gặc.  Dầm dã nửa tháng đoàn dân công đến đầu quả núi nọ thì nghe thấy ùng oàng bom đạn nổ biết là đã tới mặt trận. Chị tôi cầu trời khấn phật mong gặp đựợc anh ở cái nơi gồng gánh chen vai với bộ đội mà không gặp. Đến một đêm đoàn dân công chuyển gạo vào kho quân nhu dừng lại múa son mỳ và hát a li hò lờ  với bộ đội công binh trắng đêm rồi sáng mai lẳng lặng về hậu phương. Dọc đường chị mua được tấm áo sợi lanh nhuộm chàm của người Mường về nói dối là quà của anh gửi biếu mẹ cho mẹ chồng vui. Bây giờ anh về cái áo của chị mới lộ chuyện.

       Anh về chị tôi bận bịu vì tính nết anh nhiều khi thất thường đến là khó chiều. Cả chục năm sống với bà con dân tộc trong rừng Lào kháng chiến anh đem về nhà bệnh sốt rét kinh niên và một vết thương mảnh đạn còn bên trong vai trái cùng với những thói quen sinh hoạt của người dân tộc Lào như thích ăn xôi nắm bằng tay chấm với ớt nướng và mắm cá những thứ xoàng xĩnh thôi nhưng không phải lúc nào cũng dễ kiếm. Cứ vài ngày  bao nhiêu chăn chiếu trong nhà vội dồn lại đắp cho anh bị lên cơn sốt rét. Đắp bao nhiêu anh vẫn rét run răng va vào nhau lập cập. Sau cơn sốt anh mắc võng nằm đong đưa giữa nhà ngẩn ngơ như người mất hồn. Có ai đó nói thầm với chị tôi hay là anh bị cô dân tộc nào bỏ bùa mê nên hồn vía lúc nào cũng lên mây. Thôi thì có bệnh vái tứ phương chị lén bỏ áo anh vào chảo rang vừa rang vừa xin giải hạn mà tính anh vẫn thế.

      Cũng có những ngày anh tỉnh táo cười nói rỉnh rảng. Bao nhiêu năm sống ở đỉnh rừng Lào mới về mà anh kể toàn chuyện thế giới đại đồng nào ở Liên Xô người ta xây chủ nghĩa xã hội trước ta xướng lắm cũng làm ruộng nhưng không chân lấm tay bùn mà đi rải phân cũng bằng máy bay. Ở Trung Quốc  nhà nào cũng làm được sắt thép để xây dựng nhà máy cơ man nào là nhà máy còn  đồng ruộng của họ thì lúa tốt  đến mức rải chiếu ngồi trên ngọn lúa cũng được. Mấy đứa trẻ chúng tôi há miệng mà nghe. Nhưng chị dâu có vẻ không tin những lời anh nói lắm nhất là cái đoạn đi rải phân bằng máy bay. Bốc phét chị nói vui. Anh không giận mà bảo bà thút nút xó nhà không biết không tin là phải. Rồi nay mai Liên Xô Trung Quốc giúp ta xây dựng xong cơ sở vật chất của Chủ nghĩa cộng sản ta cũng sướng có khi bà phải đeo ủng đi cày! Chị tôi cười nghe ông nói thấy ông càng ngày càng giống lão Cáy.

     Chị tôi ví anh như lão Cáy làm cả nhà phì cười. Chả là lão Cáy từ ngày cải cách tót lên tận chức phó Chủ tịch xã phụ trách tuyên văn. Chả biết ai dạy cho lão cái bài Chủ nghĩa Mác Lê- nin vô địch thế là quanh năm xuống đội sản xuất hoặc hội họp ở các đoàn thể lão chỉ một chuyện thế giới đấu tranh giai cấp ai thắng ai như thế nào hai phe ba dòng thác ra sao và Chủ nghĩa Mác Lê-nin vô địch! Lão nói như cái máy lần trước lần sau không thêm không bớt một câu.      

      Khác với anh cả anh hai về chỉ ham vui. Suốt tám năm đi bộ đội xa nhà anh làm gì ở đâu không biết ai hỏi anh cũng chỉ cười trừ. Nhưng lạ lùng anh học vào lúc nào mà  thạo tiếng Tây kinh ngạc hơn với đám học trò chúng tôi  anh là cộng tác viên của Tạp chí Toán học. Những bài toán thuộc loại hắc búa nhất trong sách bài tập cánh lớp 7 chúng tôi cắn bút với anh chỉ đọc đầu bài đã biết đáp số. Khác với anh cả say sưa chuyện thế giới đại đồng anh chuyện làm nhà đào ao thả cá anh hai hay lông nhông với đám trẻ chúng tôi đá bóng leo trèo bẫy chim...Anh bày lại cái trò nghe nói là theo truyền thuyết vua Hùng kén người tài chỉ một hồi trống là nhẩm được hai câu thơ hoặc nhớ ra một câu đối hoặc bắn được mười mũi tên nỏ trúng đích...Trò này chơi được vài buổi chán anh lại bày ra cuộc thi thả diều.

        Quê tôi thuở ông bà  nổi tiếng với ngày hội thả diều vào tháng tám hàn năm ngay sau thu hoạch mùa nhà nhà có bát ăn bát để trong khi  đồng đất nghỉ thở để vào chiêm. Ông tôi cụ giáo Bách  từng là một thành viên của Hội diều vùng tứ xã giữ chiếc điểu phong nghĩa là chim gió có bộ sáo tứ miệng sáo khoét bằng gỗ mận đem luộc muối như luộc bánh chưng cả đêm rồi phơi nắng cho gỗ quánh lại như sừng rồi sơn thiếp tha hồ chịu mưa gió. Hội diều năm nào cũng đông vui người hàng huyện kéo đến xem nườm nượp dẵm nát các bờ cỏ. Mãi cho đến năm đầu kháng chiến xóm làng không còn yên ả nữa hội thả diều không ai còn nghĩ đến. Hồi cải cách chiếc điểu phong của ông treo trên xà nhà  giáp nóc cũng bị đội trưng thu hạ xuống. Thấy bộ sáo sơn thiếp họ tưởng là vàng nên cũng trưng thu luôn rồi không biết bỏ đâu.

      Anh tôi bày trò thi làm diều thả diều bọn trẻ cả xóm hào hứng không làm được diều đại chứ diều trung diều tiểu diều cóc diều bình vôi diều đuôi cá nóc đứa nào cũng có không chỉ một mà vài cái. Rồi cuộc thi diều của mục đồng cũng diễn ra cả mấy chục chiếc lao xao trên nóc làng như ngày xưa thanh bình.

       Cho đến một buổi sau bữa cơm tối mẹ tôi hỏi anh hai nghỉ phép dợt này xong anh có phải đi xa nữa không? Anh tôi thưa đi xa bầm ạ. Mẹ ngồi nhai tràu một lúc bảo cha bố anh anh sắp đi xa mà ngày nào cũng lông bông chơi với đám trẻ không nghĩ đến bố mẹ già mai này thiếu người nương tựa ư? Anh ngồi im. Vài ngày sau gia đình tôi rậm rịch xay lúa giã gạo để làm đám cưới cho anh lấy chị Ngôi cô gái hiền thục và xinh đẹp nhất làng về làm dâu nhà tôi. Ngày cưới lẽ ra là ngày nhà như tết vậy mà không được như thế. Không biết anh cả đã nhờ chi đoàn thanh niên làng từ khi nào mà lúc sắp làm lễ cưới họ kéo đến căng tấm phông ghép bằng bốn vỏ chăn hoa giữa cắt dán chim hòa bình trắng đậu trên quả địa cầu xanh khẩu hiệu trên cùng là Tổ quốc trên hết bên phải: Vui hạnh phúc gia đình không quên nhiệm vụ bên trái : Mình vì mọi người mọi người vì mình. Anh cả tay cầm quạt mo phe phảy đi lại ngắm nghía phông mà của cánh chi đoàn có vẻ hài lòng. Nhưng anh hai thì không hứng thú gì đến phông màn khẩu hiệu còn bảo bỏ bớt khẩu hiệu vì nhìn giống phòng họp chi bộ. Nghe anh hai nói anh cả mắng át chú nói vậy mà nghe được à. Gia đình ta lên thành phần hồi cải cách chỉ là oan Đảng Nhà nước đã sửa sai. Vì thế nhà ta là cách mạng cưới xin cũng phải gương mẫu. Chú không thấy tình hình trong nước tình hình thế giới đang nhiều biến động phức tạp đấy à. Vì thế phải động viên mọi người vui hạnh phúc gia đình không quên nhiệm vụ là đúng. Nghe anh cả dạy anh hai cười. Anh cả gắt tôi nói thế mà chú còn cười thì ý thức cán bộ đảng viên của chú bỏ đâu? Thế là anh cả tôi bực lên to tiếng. Có lẽ vì quá bực mình đỏ mặt tía tai quát em một chặp anh nằm lăm xuống giường người co quắp. Chị tôi biết anh lại lên cơn sốt rét. Thế là bao nhiêu chăm chiếu của cả nhà vội thu lại đắp cho anh. Nằm lọt thỏm trong đống chăn chiếu to xụ anh như con kén nhỏ bé và bấy bá sau khi nhả tơ.

      Sau vài ngày cưới anh hai tôi đi nửa năm sau có thư gửi về cả nhà mới biết anh đang học kỹ thuật ở trường Đại học tổng hợp Lômônôxốp Liên Xô.

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'3535','a1rkg439op5nafsaecsupiecd2','0','Guest','0','54.92.164.184','2018-09-18 22:32:55','/a102654/ngay-di-qua-5.html')